Pháp luật dân sự: Nền tảng cho các luật khác
Nguyên tắc của luật dân sự là những quy tắc chung được pháp luật quy định có vai trò định hướng và chỉ đạo toàn bộ các quy phạm của luật dân sự. Các nguyên tắc của luật dân sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng đúng luật dân sự, ngoài ra còn là cơ sở để áp dụng pháp luật trong những trường hợp các quan hệ xã hội chưa có sự điều chỉnh bằng pháp luật.
1. Nguyên tắc cơ bản của luật dân sự là gì?
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật là những tư tưởng mang tính chỉ đạo cơ bản, xuyên suốt, định hướng cho toàn bộ hệ thống pháp luật. Việc quán triệt, hiểu rõ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện pháp luật đúng tinh thần, bản chất mà pháp luật điều chỉnh. Sau đây là các nguyên tắc định hướng toàn bộ pháp luật dân sự:
- Nguyên tắc bình đẳng của luật dân sự: Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản. Khác với các mối quan hệ hành chính thì trong dân sự, các chủ thể tham gia trong mối quan hệ đều bình đẳng với nhau
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của luật dân sự: Các bên tham gia quan hệ dân sự có quyền tự do cam kết, thoả thuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Mọi cam kết và thoả thuận hợp pháp đều được pháp luật bảo hộ. Khi cam kết, thoả thuận, các bên hoàn toàn tự nguyện, không được ai dùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thoả thuận trái với ý chí của người đó. Mọi cam kết, thoả thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể bị tuyên bố là vô hiệu.
- Nguyên tắc thiện chí, trung thực của luật dân sự của luật dân sự: Trong quan hệ dân sự, các bên phải hợp tác, giúp đỡ nhau để tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi bên không chỉ quan tâm đến quyền và lợi ích của mình mà còn phải quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, của Nhà nước và xã hội. Trong quan hệ dân sự các bên được suy đoán là trung thực, thiện chí. Nêu một bên cho rằng bên kia không trung thực, thiện chí phải có chứng cứ (khoản 3 Điều 3 BLDS 2015).
- Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác: Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam cũng như hầu hết các luật dân sự trên thế giới, nguyên tắc này không chỉ được quy định tại khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 mà còn được cụ thể hóa ở các phần khác của Bộ luật dân sự.
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự của luật dân sự: Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự. Do đó, trong trường hợp có thiệt hại xảy ra, chủ thể gây thiệt hại trong quan hệ dân sự phải chịu trách nhiệm. Nếu không thực hiện phải tự chịu trách nhiệm và có thể bị cưỡng chế thi hành nghĩa vụ và phải bồi thường thiệt hại. Mỗi chủ thể tham gia phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

2. Bố cục và nội dung của Bộ luật dân sự 2015 hiện hành
Bộ luật dân sự 2015 hiện hành gồm 6 phần, 689 điều:
Phần 1: Quy định chung
Chương I: Những quy định chung
Chương này đưa ra những quy định chung khi áp dụng bộ luật dân sự.
Chương II: Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự
Chương này đưa ra những quy định về xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự.
Chương III: Cá nhân
Chương này đưa ra những quy định về các quyền dân sự của cá nhân.
Năng lực hành vi dân sự là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi dân sự là khác nhau ở các đối tượng như:
- người thành niên: là người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự
- người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi, chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Năng lực hành vi dân sư như thế nào tuỳ thuộc vào độ tuổi: tới 6 tuổi, từ đủ 6 đến dưới 15 tuổi, từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi
Năng lực pháp luật dân sự có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự như nhau, gồm có:
- Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
- Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.
- Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Nơi cư trú là một khái niệm quan trọng gắn liền với đời sống mỗi cá nhân, không chỉ đơn thuần là nơi sinh sống mà còn là yếu tố pháp lý quan trọng. Cư trú của cá nhân được chia thành:
- Nơi thường trú: Là nơi cư trú lâu dài, ổn định và đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.
- Nơi tạm trú: Là nơi cá nhân sinh sống trong một thời gian nhất định ngoài nơi thường trú và đã được đăng ký tạm trú.
Giám hộ là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một số đối tượng trong xã hội. Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được UBND xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được người được giám hộ lựa chọn để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được giám hộ ( người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi).
Vắng mặt tại nơi cư trú: Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó.
Người mất tích: Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.
Chương IV: Pháp nhân
Tổ chức được công nhận là một pháp nhân khi có đủ điều kiện sau đây:
- Được thành lập theo quy định của Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan;
- Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật dân sự;
- Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
- Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Pháp nhân có hai loại là:
- Pháp nhân thương mại: Tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên
- Pháp nhân phi thương mại: Không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận; nếu có lợi nhuận thì cũng không được phân chia cho các thành viên
Chương V: Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, cơ quan nhà nước ở trung ương, ở địa phương trong quan hệ dân sự
Chương này đưa ra những quy định về quyền dân sự của Nhà nước
Chương VI đưa ra những quy định về quyền dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
Chương VII: Tài sản
Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Quyền sở hữu bất động sản phải được đăng ký theo quy định, còn quyền sở hữu động sản thì không phải đăng ký.
Bất động sản bao gồm:
- Đất đai;
- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
- Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
- Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Động sản là những tài sản không phải là bất động sản: đa số động sản không phải đăng ký khi xác lập sở hữu trừ những trường hợp sau:
- Tầu biển
- Phương tiện thủy nội địa đạt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật
- Tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét trở lên phải được đăng ký vào sổ đăng ký tàu cá quốc gia và cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá theo quy định. Tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 06 mét do Ủy ban nhân dân cấp xã thống kê phục vụ công tác quản lý.
- Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ
- Tầu bay
- Phương tiện giao thông đường sắt
- Bảo vật quốc gia
- Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Tài sản có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
Chương này cũng quy định một số khái niệm khác về tài sản như hoa lợi, lợi tức, vật chính và vật phụ, vật chia được và vật không chia được, vật tiêu hao và vật không tiêu hao, Vật cùng loại và vật đặc định, Vật đồng bộ, quyền tài sản.
Chương VIII: Giao dịch dân sự
Chương này đưa ra những quy định về giao dịch dân sự.
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
- Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định (trừ trường hợp các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch)
Khi không thỏa mãn một trong các điều kiện nói trên thì giao dịch dân sự sẽ vô hiệu và không phát sinh hiệu lực pháp luật.
Chương IX: Đại diện
Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (gọi chung là đại diện theo pháp luật).
Chương này đưa ra những quy định về cách xác định người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hay cá nhân, thời hạn đại diện, phạm vi đại diện, hậu quả pháp lý của của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, hoặc do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện.
Chương X Thời hạn và thời hiệu
Thời hạn: Chương này đưa ra các quy định về cách tính thời hạn trong việc giải quyết các vụ việc và vụ án dân sự.
Thời hiệu: là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Chương này cũng quy định cách tính thời hiệu, các trường hợp không áp dụng thời hiệu, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự.
Phần 2: Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản
Chương XI: Quy định chung
Chương này đưa ra những quy định về:
- nguyên tắc xác lập, thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
- bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
- giới hạn quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản
Chương XII: Chiếm hữu
Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
Chương này quy định về các loại hình chiếm hữu gồm:
- Chiếm hữu ngay tình: Là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản của người là chủ sở hữu tài sản hoặc không phải là chủ sở hữu, nhưng người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
- Chiếm hữu không ngay tình: Là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.
- Chiếm hữu liên tục: Là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
- Chiếm hữu công khai: Là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.
Chương XIII: Quyền sở hữu
Quyền sở hữu tài sản gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản.
Các hình thức sở hữu tài sản gồm có:
- sở hữu toàn dân: là hình thức sở hữu mà toàn dân là chủ sở hữu, Nhà nước đại diện thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
- sở hữu riêng: là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân. Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
- sở hữu chung: là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản, bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Chương này cũng quy định về cách xác lập, chấm dứt quyền sở hữu đối với các loại tài sản khác nhau.
Chương XIV: Quyền khác đối với tài sản
Chương này quy định về các quyền khác đối với tài sản, đó là:
- quyền đối với bất động sản liền kề: là quyền được thực hiện trên một bất động sản nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác
- quyền bề mặt: là quyền của một chủ thể đối với mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất mà quyền sử dụng đất đó thuộc về chủ thể khác.
- quyền hưởng dụng: là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định.
Phần 3: Nghĩa vụ và hợp đồng
Chương XV: Quy định chung
Chương này gồm 7 mục, trong đó từ mục 1 đến mục 3 (từ Điều 274 đến Điều 350) quy định về căn cứ phát sinh và đối tượng của nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ gồm:
- Cầm cố tài sản: là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
- Thế chấp tài sản: là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia. Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp.
- Đặt cọc: là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
- Ký cược: là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.
- Ký quỹ: là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
- Bảo lưu quyền sở hữu: Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ. Bảo lưu quyền sở hữu phải được lập thành văn bản riêng hoặc được ghi trong hợp đồng mua bán.
- Bảo lãnh: là việc người thứ ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
- Tín chấp: Tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại tổ chức tín dụng để sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
- Cầm giữ tài sản: là việc bên có quyền đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Mục 4 quy định về trách nhiệm dân sự gồm:
- Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ
- Điều 352. Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
- Điều 353. Chậm thực hiện nghĩa vụ
- Điều 354. Hoãn thực hiện nghĩa vụ
- Điều 355. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
- Điều 356. Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật
- Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
- Điều 358. Trách nhiệm do không thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc
- Điều 359. Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
- Điều 360. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
- Điều 361. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ
- Điều 362. Nghĩa vụ ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
- Điều 363. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi
- Điều 364. Lỗi trong trách nhiệm dân sự
Mục 5 quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ với 7 điều từ Điều 365 đến Điều 371 Bộ luật dân sự.
Mục 6 quy định về các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ gồm:
- Nghĩa vụ được hoàn thành.
- Theo thỏa thuận của các bên;
- Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ;
- Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
- Nghĩa vụ được bù trừ;
- Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hòa nhập làm một;
- Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết;
- Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
- Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác;
- Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác;
- Trường hợp khác do luật quy định.
Mục 7 gồm 3 tiểu mục với 46 điều đặt ra các quy định chung về hợp đồng bao gồm: quy định về khái niệm hợp đồng, giao kết, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng.
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự..
Xem chi tiết tại: Giới thiệu về Hợp đồng: Không thể thiếu trong các giao dịch
Chương XVI: Một số hợp đồng thông dụng
Chương này gồm 11 mục, quy định về một số loại hợp đồng thông dụng như sau:
- Mục 1. Hợp đồng mua bán tài sản: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.
- Mục 2. Hợp đồng trao đổi tài sản: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.
- Mục 3. Hợp đồng tặng cho tài sản: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.
- Mục 4.Hợp đồng vay tài sản: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Mục 5. Hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng thuê khoán tài sản
- Mục 6. Hợp đồng mượn tài sản: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.
- Mục 7. Hợp đồng về quyền sử dụng đất: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.
- Mục 8. Hợp đồng hợp tác: là sự thỏa thuận giữa các cá nhân, pháp nhân về việc cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm.
- Mục 9. Hợp đồng dịch vụ: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ
- Mục 10. Hợp đồng vận chuyển gồm hợp đồng vận chuyển hành khách và hợp đồng vận chuyển tài sản
- Mục 11. Hợp đồng gia công: là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhận gia công thực hiện công việc để tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công, bên đặt gia công nhận sản phẩm và trả tiền công.
Chi tiết tại: Các loại hợp đồng thông dụng
Chương XVII: Hứa thưởng, thi có giải
Chương này gồm có 4 điều quy định về “Hứa thưởng và thi có giải”. Nội dung chính của chương này là về việc một người công khai hứa thưởng cho người khác khi người đó thực hiện một công việc nhất định, và các quy định liên quan đến việc tổ chức thi có trao giải.
Chương XVIII: Thực hiện công việc không có uỷ quyền
Chương này gồm 5 điều quy định về nghĩa vụ thực hiện, nghĩa vụ thanh toán, bồi thường thiệt hại và các trường hợp chấm dứt việc thực hiện công việc không có ủy quyền.
Chương XIX: Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Chương XIX cũng gồm 5 điều, từ Điều 579 đến Điều 583 Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật. Nội dung chính của chương này là khi một người chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật, họ có nghĩa vụ phải hoàn trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp, cùng với hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó, đặc biệt là khi người chiếm hữu không ngay tình.
Chương XX: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Chương XX trong Bộ luật Dân sự quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Điều này có nghĩa là khi một người gây ra thiệt hại cho người khác mà không có hoặc không liên quan đến hợp đồng, người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nội dung chính của chương này bao gồm các quy định về điều kiện phát sinh trách nhiệm, các trường hợp bồi thường cụ thể, và các nguyên tắc bồi thường.
Xem thêm: Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: 4 trường hợp, 3 căn cứ
Phần thứ tư: Thừa kế
Chương XXI: Quy định chung
Chương XXI trong Bộ luật Dân sự thường quy định về các vấn đề chung liên quan đến thừa kế, bao gồm: khái niệm thừa kế, các hình thức thừa kế (thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật), các chủ thể được hưởng thừa kế, di sản thừa kế, người quản lý di sản, từ chối nhận di sản, thời điểm và địa điểm mở thừa kế, thời hiệu thừa kế và các quy định khác liên quan đến việc thực hiện quyền thừa kế.
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Xem thêm: Quản lý di sản thừa kế như thế nào cho đúng luật ?
Chương XXII: Thừa kế theo di chúc
Chương XXII trong Bộ luật Dân sự quy định về thừa kế theo di chúc, bao gồm các quy định về hình thức di chúc, người thừa kế, phân chia di sản và các vấn đề liên quan khác. Thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế mà người để lại di sản (người chết) đã có ý chí định đoạt tài sản của mình thông qua di chúc, và di chúc này được pháp luật công nhận.
- Di chúc: Chương này quy định các hình thức di chúc hợp pháp, như di chúc miệng, di chúc bằng văn bản có hoặc không có người làm chứng.
- Người thừa kế: Xác định những người có quyền hưởng di sản theo di chúc.
- Phân chia di sản: Quy định về cách thức phân chia di sản theo ý chí của người để lại di chúc hoặc theo pháp luật trong trường hợp di chúc không rõ ràng hoặc không hợp pháp.
- Hiệu lực của di chúc: Xác định thời điểm di chúc có hiệu lực, các trường hợp di chúc vô hiệu hoặc một phần di chúc vô hiệu.
- Các trường hợp thừa kế theo pháp luật: Chương này cũng đề cập đến các trường hợp thừa kế theo pháp luật, khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp.
Chương XXIII: Thừa kế theo pháp luật
Chương XXIII trong Bộ luật Dân sự quy định về thừa kế theo pháp luật, tức là việc phân chia di sản của người đã chết khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ.
- Đối tượng thừa kế theo pháp luật: Bao gồm những người thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật, thường là người thân thích của người chết như vợ, chồng, con, cha mẹ, anh chị em ruột, ông bà.
- Thứ tự hàng thừa kế: Pháp luật quy định thứ tự ưu tiên những người được hưởng thừa kế, thường là theo các hàng: Hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Hàng thừa kế thứ hai gồm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.
- Thời điểm mở thừa kế
- Phân chia di sản: Di sản được chia đều cho những người thuộc cùng một hàng thừa kế, nếu không có thỏa thuận khác.
- Quyền và nghĩa vụ của người thừa kế: Người thừa kế có quyền nhận di sản và có nghĩa vụ thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại.
- Trường hợp không có người thừa kế theo pháp luật: Nếu không có người thừa kế theo pháp luật thì di sản thuộc về Nhà nước.
Xem thêm: Thừa kế theo pháp luật – những điều quan trọng không thể bỏ qua !
Chương XXIV: Thanh toán và phân chia di sản
Chương này bao gồm các điều từ Điều 656 đến Điều 662, chi tiết về trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan đến việc thanh toán các khoản nợ, chi phí mai táng và phân chia tài sản của người đã chết cho những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Xem thêm: Phân chia di sản thừa kế: Rất quan trọng khi chia thừa kế
Phần thứ năm: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
Phần thứ năm của Bộ luật Dân sự Việt Nam (từ Điều 663 đến Điều 687) quy định về Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Phần này bao gồm ba chương: Chương XXV: Quy định chung, Chương XXVI: Pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân, và Chương XXVII: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân.
- Chương XXV: Quy định chung: Phần này xác định thế nào là quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (ví dụ, có ít nhất một bên là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài) và nguyên tắc áp dụng pháp luật.
- Chương XXVI: Pháp luật áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân: Quy định về việc xác định quốc tịch, nơi cư trú, năng lực pháp luật dân sự, và các vấn đề liên quan đến cá nhân và pháp nhân nước ngoài.
- Chương XXVII: Pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân: Quy định về việc xác định pháp luật áp dụng cho các quan hệ như quyền sở hữu, hợp đồng, thừa kế, và các quyền nhân thân khác có yếu tố nước ngoài.
Phần thứ sáu: Điều khoản thi hành
Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định như sau:
Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì chủ thể giao dịch tiếp tục thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11, trừ trường hợp các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này.
Giao dịch dân sự đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11;
Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
Trong quan hệ dân sự, đề cao sự tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của cá nhân, pháp nhân. Do đó, trong thực hiện nguyên tắc này cần lưu ý đặt trong mối quan hệ mật thiết với các nguyên tắc còn lại để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, đó là việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Trên đây là chia sẻ của Luật Thái An về các nguyên tắc cơ bản của luật dân sự. Nếu có bất cứ thắc mắc nào vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để được tư vấn và giải đáp. Trân trọng cảm ơn!
- Vụ án ly hôn đơn phương giành quyền nuôi con - 04/06/2024
- LY HÔN VỚI CHỒNG ĐANG ĐI TÙ: THÀNH CÔNG BẤT CHẤP MỌI KHÓ KHĂN! - 04/06/2024
- Luật sư giúp khách hàng trong tranh chấp với Thẩm mỹ viện - 25/01/2024
