Các quy định chung của pháp luật hình sự
Các quy định chung của pháp luật hình sự là nền tảng quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Phần quy định chung của bộ luật này là nền tảng để xác định rõ ràng các các nguyên tắc xử lý hình sự, các khái niệm pháp lý cốt lõi. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu sau đây:
1. Quy định chung của pháp luật hình sự: Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với các loại trách nhiệm pháp lý khác, điều này có nghĩa người bị áp dụng có thể phải gánh chịu những hậu quả bất lợi liên quan đến tính mạng, tài sản, danh dự, uy tín, tự do cá nhân…
Theo Điều 2 Bộ luật hình sự 2015 quy định cơ sở của trách nhiệm hình sự như sau:
- Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Chỉ pháp nhân thương mại phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật hình sự 2015 mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Xem thêm: PHÁP NHÂN THƯƠN MẠI PHẠM TỘI
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự … Chi tiết có tại bài viết TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ.
2. Quy định chung của pháp luật hình sự: Cơ quan tiến hành tố tụng
Người tiến hành tố tụng là những người có trách nhiệm điều tra, truy tố, và xét xử một cách khách quan và công bằng. Vai trò của họ không chỉ đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong mỗi vụ án. Khoản 1 Điều 34 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 quy định cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:
- Cơ quan điều tra:Cơ quan điều tra sẽ có trách nhiệm là tiến hành điều tra và tìm ra sự thật khách quan liên quan đến tội phạm để xử lý theo quy định của pháp luật. Để điều tra và tìm ra sự thật khách quan, thì Cơ quan điều tra phải thực hiện đúng và tuân thủ mọi thủ tục được pháp luật quy định, trong đó có việc triệu tập người bị tố giác, người liên quan, người làm chứng hoặc bất kỳ người nào đến Cơ quan điều tra để làm việc.
- Viện kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng, cùng với Toà án. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chức năng của Viện kiểm sát là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng. Đây là hoạt động kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của Toà án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tố tụng dân sự xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; các hoạt động tố tụng dân sự khác theo quy định của pháp luật.
- Tòa án: là cơ quan nhân danh quyền lực nhà nước xét xử các vụ án, vụ việc dân sự dựa trên những quy định pháp luật.
Tương ứng với từng cơ quan thì người tiến hành tố tụng được quy định tại khoản 2 Điều 34 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 gồm có:
- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
- Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên.
Chi tiết có tại bài viết sau:

3. Quy định chung của pháp luật hình sự: Những người tham gia tố tụng
Nhóm người tham gia tố tụng gồm:
- bị can: là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Theo đó, bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Một cá nhân hoặc pháp nhân từ khi có quyết định khởi tố bị can thì được gọi là bị can.
- bị cáo: là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
- bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
- nguyên đơn dân sự: là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nguyên đơn dân sự cần chứng minh rằng họ đã phải chịu tổn thất do hành vi phạm tội của bị đơn để được bồi thường cho những tổn thất này. Việc theo đuổi này có thể diễn ra song song với việc truy tố hình sự, cho phép nguyên đơn dân sự trình bày bằng chứng, gọi nhân chứng và đưa ra lập luận tại tòa.
- bị đơn dân sự: là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bị đơn dân sự là cá nhân, tức là người có hành vi phạm tội gây ra thiệt hại về vật chất cho nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện theo pháp luật của họ. Ví dụ: Cha mẹ của người chưa thành niên phải bồi thường những thiệt hại do con họ gây ra trong một vụ án hình sự. Lúc này bị đơn dân sự là cha mẹ của người chưa thành niên (bị cáo trong vụ án hình sự).
- người làm chứng: là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
- người chứng kiến: là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng.
- người bào chữa: là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Người bào chữa có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
- người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Người bảo vệ có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
- …
Xem thêm tại: NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG HÌNH SỰ
4. Quy định chung của pháp luật hình sự: Những biện pháp ngăn chặn
Biện pháp ngăn chặn là việc cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp giữ người để:
- Ngăn chặn tội phạm.
- Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội.
- Để đảm bảo thi hành án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì có 08 biện pháp ngăn chặn. Đó là:
a. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp:
Biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp được áp dụng khi:
- Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
- Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
- Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Chi tiết có tại bài viết sau:
b. Bắt người
Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì bắt người gồm có các trường hợp sau đây:
- Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
- Bắt người phạm tội quả tang
- Bắt người đang bị truy nã
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
- Bắt người bị yêu cầu dẫn độ
c. Biện pháp ngăn chặn: Tạm giữ
Biện pháp ngăn chặn tạm giữ được áp dụng đối với:
- Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
- Người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang
- Người phạm tội tự thú, đầu thú;
- Người bị bắt theo quyết định truy nã.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
(Căn cứ khoản 4 Điều 117 Bộ luật tố tụng hình sự 2015).
c. Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam
Biện pháp ngăn chặn tạm giam áp dụng trong các trường hợp sau:
- Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
- Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
- Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
- Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
- Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
- Bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
Bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
- Tiếp tục phạm tội;
- Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
- Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
(Căn cứ vào khoản 1,2,3,4 Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015).
d. Bảo lĩnh
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam.
Để được bảo lĩnh cho bị can, bị cáo, người bảo lĩnh phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên;
- Nhân thân tốt;
- Nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;
- Thu nhập ổn định;
- Có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh.
Bị can, bị cáo phải được ít nhất 02 người bảo lĩnh trở lên. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Chi tiết có tại bài viêt sau:
e. Đặt tiền để bảo đảm
Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Người thân thích của bị can, bị cáo được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp nhận cho đặt tiền để bảo đảm phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ đã cam đoan, nếu vi phạm thì số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Chi tiết có tại bài viêt sau:
f. Cấm đi khỏi nơi cư trú
Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Chi tiết có tại bài viêt sau:
g. Tạm hoãn xuất cảnh
Những người sau đây sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm hoãn xuất cảnh:
- Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;
- Bị can, bị cáo.
Chi tiết có tại bài viêt sau:
5. Quy định chung của pháp luật hình sự: Những biện pháp cưỡng chế
Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau:
- áp giải: áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.
- dẫn giải: áp dụng đối với:
- người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
- người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
- người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
- kê biên tài sản: thống kê, lập danh mục từng loại tài sản và giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm đảm bảo cho việc xét xử, thi hành bản án và các quyết định của cơ quan nhà nước được thuận lợi, đúng pháp luật.
- phong tỏa tài khoản: không cho phép rút tiền khỏi tài khoản nhằm đảm bảo cho việc xét xử, thi hành bản án và các quyết định của cơ quan nhà nước
Chi tiết có tại bài viết sau:
Tóm lại, các quy định chung của pháp luật hình sự là nền tảng cốt lõi định hướng toàn bộ hệ thống pháp luật hình sự và hoạt động tố tụng hình sự ở Việt Nam. Những quy định này không chỉ xác định rõ các khái niệm cơ bản mà còn đề ra những nguyên tắc xử lý công bằng, nhân đạo và phù hợp với từng đối tượng, tình tiết cụ thể. Việc áp dụng đúng đắn các quy định chung sẽ giúp bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng oan sai, bỏ lọt tội phạm và bảo vệ quyền con người.
Nếu bạn cần được tư vấn về pháp luật hình sự, Công ty Luật Thái An luôn sẵn sàng hỗ trợ.
- Vụ án ly hôn đơn phương giành quyền nuôi con - 04/06/2024
- LY HÔN VỚI CHỒNG ĐANG ĐI TÙ: THÀNH CÔNG BẤT CHẤP MỌI KHÓ KHĂN! - 04/06/2024
- Luật sư giúp khách hàng trong tranh chấp với Thẩm mỹ viện - 25/01/2024
