Năng lực hành vi dân sự: Những quy định chi tiết nhất

Năng lực hành vi dân sự là một trong những điều kiện cơ bản cần có để một giao dịch dân sự được xác lập và có hiệu lực pháp luật. Bộ luật dân sự 2015 đã quy định khá rõ về năng lực hành vi dân sự. Hãy cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi để biết thông tin chi tiết.

1. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự 2015 thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Tại Điều 674 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

  • Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch, trừ trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam. Trường hợp này năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài đó được xác định theo pháp luật Việt Nam
  • Việc xác định cá nhân bị mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam.

1.1 Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường người thành niên là người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người hạn chế năng lực hành vi dân sự

Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.

(Căn cứ Điều 20 Bộ luật dân sự 2015).

Xem thêm:

Năng lực hành vi dân sự: Những quy định chi tiết nhất

1.2 Cá nhân có năng lực hành vi dân sự một phần

Cá nhân dưới 18 tuổi là những người có năng lực hành vi dân sự một phần. Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thoả mãn những nhu cầu thiết yếu hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Cụ thể tại Điều 21 Bộ luật dân sự 2015 quy đinh:

  • Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
  • Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
  • Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

1.3 Cá nhân mất năng lực hành vi dân sự

Căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 thì khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.  Người đại diện theo pháp luật của cá nhân được quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm:

  • Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
  • Người giám hộ đối với người được giám hộ.

Trường hợp người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ, cá nhân, pháp nhân được lựa chọn là người giám hộ nếu người này đồng ý. Việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

Nếu không có người giám hộ được lựa chọn thì xác định như sau:

  • Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.
  • Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.
  • Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.
    • Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện trong hai trường hợp trên.
    • Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

>>>Xem thêm: Người được giám hộ – Các vấn đề pháp lý cần biết

1.4 Cá nhân có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

>>>Xem thêm: Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: Những điều cần biết!

1.5 Cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Lưu ý: Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

người có năng lực hành vi dân sự
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì sẽ tự mình thực hiện được các giao dịch. ảnh minh hoạ: Luật Thái An

2. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Căn cứ Điều 376, Điều 377 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ được tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu

  • Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự
  • Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.

Bước 2: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có thể trưng cầu giám định sức khỏe, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Trong trường hợp này, khi nhận được kết luận giám định, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.

Bước 3: Tòa án mở phiên họp xét đơn yêu cầu

  • Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Trong quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án phải xác định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
  • Trong quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa án phải chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

3. Thủ tục giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu

  • Thời điểm được nộp đơn: Khi người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố
  • Người được nộp đơn: Người bị tuyên bố đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

(Căn cứ Điều 379 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)

Bước 2: Tòa án giải quyết đơn yêu cầu

Theo Điều 380 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Xem thêm:

Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự – Hiểu đúng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp

4. Giao dịch do người mất, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện có bị vô hiệu không?

Tại Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Khi giao dịch dân sự do người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp dưới đây.

  • Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
  • Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
  • Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.

5. Pháp nhân có năng lực hành vi dân sự không?

Bộ luật dân sự 2015 không quy định về năng lực hành vi dân sự của pháp nhân. Tuy nhiên có thể hiểu năng lực hành vi dân sự pháp nhân chính là năng lực hành vi dân sự của người đại diện của pháp nhân.

Bởi pháp nhân muốn tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự phải thông qua hành vi của người đại diện. Người đại diện phải nhân danh pháp nhân thực hiện giao dịch dân sự thì mới phát sinh quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm dân sự của pháp nhân.

Nếu người đại diện không nhân danh pháp nhân để thực hiện giao dịch thì chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người đại diện vì khi đó, người đại diện đang tham gia giao dịch với tư cách là của họ, tư cách của một cá nhân.

>>>Xem thêm: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Trên dây là những quy định về năng lực hành vi dân sự. Nếu quý khách hàng có những thắc mắc, muốn được hiểu rõ hơn hoặc nếu cần được tư vấn, hỗ trợ thực hiện thủ tục tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hãy liên hệ với Công ty Luật Thái An ngay để có thể nhận được sự tư vấn nhanh chóng, hiệu quả, uy tín, chất lượng.

>>> Xem thêm: Dịch vụ tư vấn pháp luật chất lượng cao

Đàm Thị Lộc