Tội phạm là hiện tượng xã hội có thể tồn tại trong bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào. Tất cả các nước trên thế giới và Việt Nam đều hướng đến mục tiêu phòng, chống tội phạm tới tới loại bỏ tội phạm khỏi xã hội. Điều này đòi hỏi các biện pháp về tội phạm không chỉ dừng lại ở chính sách riêng, luật quốc gia đó mà còn phải có sự liên kết quốc tế, đấu tranh với các loại tội phạm xuyên quốc gia.

Công ty Luật Thái An với sứ mệnh phổ biến và tuyên truyền pháp luật, tự nhận thức về trách nhiệm đối với nhà nước và xã hội trong mục tiêu phòng chống tội phạm hình sự, trong bài viết dưới đây chúng tôi xin được tư vấn về thế nào là tội phạm hình sự?

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh khái niệm tội phạm hình sự

Cơ sở pháp lý điều chỉnh khái niệm tội phạm hình sự là Điều 8 BLHS 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.

2. Định nghĩa tội phạm hình sự

Căn cứ vào Điều 8 BLHS 2015 quy định:

Tội phạm là hành vi nguy him cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền… quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Định nghĩa về tội phạm hình sự trong BLHS 2015 là một định nghĩa rộng, bao trùm hơn cả. Chủ thể phạm tội không chỉ là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà còn cả pháp nhân thương mại. Đây là một điểm mới đáng lưu trong khái niệm tội phạm hình sự. Dưới đây là phần phân tích cụ thể của chúng tôi.

===>>> Xem thêm: Phân loại tội phạm

3. Đặc điểm của tội phạm hình sự

Tội phạm hình sự nói chung có những dấu hiệu nhận diện, phân biệt với các vi phạm pháp luật khác. Theo đó, tội phạm hình sự có 5 đặc điểm là: tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tính có lỗi; tính trái pháp luật hình sự (tính được quy định trong BLHS); do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện; tính phải chịu hình phạt. Cụ thể được phân tích như sau:

a. Tội phạm hình sự là nguy hiểm cho xã hội 

Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng đối với tội phạm thì tính nguy hiểm cho xã hội luôn ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật khác. Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác như tính được quy định trong BLHS của tội phạm. 

Một trong yếu tố tạo nên tính nguy hiểm cho xã hội là tính gây thiệt hại. Tính gây thiệt hại có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Như vậy, kể cả chưa có thiệt hại xảy ra, hành vi mang tính đe dọa gây ra thiệt hại cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, có mức độ nguy hiểm nhất định.

Ví dụ hành vi cầm dao đe đọa sẽ giết đối phương nếu không đáp ứng nhu cầu của kẻ phạm tội. Tùy từng trường hợp mà người phạm tội có thể bị kết án với tội danh khác nhau.

Không có một văn bản pháp luật cụ thể nào quy định thế nào là “tính nguy hiểm cho xã hội” hay mức độ nguy hiểm đó thể hiện như thế nào. Nhưng trong quá trình tìm hiểu, phân tích, kinh nghiệm nhiều năm tư vấn và giải quyết các vụ án hình sự, chúng tôi sẽ đưa ra một số căn cứ để xác định mức nguy hiểm của hành vi. Muốn biết mức độ nguy hiểm thì có thể dựa vào các yếu tố như:

  • Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại: Các quan hệ được pháp luật bảo vệ là “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật” (điều 8).

Ví dụ như: Một người thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, xâm phạm đến quan hệ xã hội là an ninh, trật tự, an toàn xã hội có tính nguy hiểm ít hơn một người thực hiện hành vi giết người xâm phạm đến quyền sống của công dân. 

  • Dựa theo thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi: Việc sử dụng thủ đoạn lời nói hay công nghệ cao, công cụ là dao, gậy, đá, búa….;phương tiện: xe máy, xe đạp… cũng thể hiện múc độ nguy hiểm của hành vi. Cùng là hành vi đe dọa giết người nhưng việc người đó cầm dao đe dọa có tính chất nguy hiểm hơn rất nhiều so với người cầm đá đe dọa đối phương.

Hay người đánh cắp tài liệu mật bằng công nghệ cao có khả năng hách được toàn bộ hệ thống bảo mật nguy hiểm hơn việc đánh cắp thủ công bằng chân tay, đánh tráo. Người thực hiện hành vi cướp giật tài sản đi bằng xe máy nguy hiểm hơn người thực hiện hành vi đó không sử dụng phương tiện hoặc đi bằng xe đạp.

  • Căn cứ vào tính chất, mức độ gây thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra: Mức độ gây ra thiệt hại, đoa dọa gây ra thiệt hại nhiều hay ít, nặng hay nhẹ cũng phản ánh tính nguy hiểm của hành vi. Người thực hiện hành vi đe dọa kích bom nổ tại khu chung cư thành thị sẽ có khả năng gây thiệt hại nhiều hơn, tính thương vong cũng nhiều hơn nên tính nguy hiểm cho xã hội lớn hơn là người đe dọa đốt nhà riêng lẻ.
  • Tính chất, mức độ lỗi cũng là một căn cứ để phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi. Rõ ràng nếu cố ý thực hiện hành vi đến cùng, đạt được mục đích ban đầu đề ra thì tính nguy hiểm cao hơn rất nhiều so với người vô ý thực hiện hành vi đó.
Khái niệm tội phạm hình sự
Khái niệm tội phạm trên phương diện pháp lý mà bạn cần biết – Nguồn ảnh minh họa: Internet
  • Ngoài ra, để xác định mức độ nguy hiểm của hành vi thì cũng có thể căn cứ vào động cơ, mục đích phạm tội. Thường người có động cơ cụ thể: trả thù, đòi nợ.., mục đích phạm tội rõ ràng: giết người bằng được, phải lấy được tài sản đó bằng được thì tính nguy hiểm cao hơn nhiều so với những đối tượng phạm tội ngẫu nhiên.
  • Nhân thân người phạm tội: Việc người đó phạm tội lần đầu hay phạm tội nhiều lần, nhiều tội hay một tội, tái phạm hay tái phạm nguy hiểm… cũng phản ánh tính nguy hiểm của hành vi. So với người phạm tội lần đầu thì người phạm tội nhiều lần có tính man rợ, mạnh bạo, quyết liệt, nguy hiểm hơn.
  • Hoàn cảnh chính trị xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra: hoàn cảnh, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, địa điểm thực hiện hành vi cũng thể hiện tính nguy hiểm của nó. Nền kinh tế sa sút, nghèo đói, chính trị bất ổn hay địa điểm vắng người khiến cho người phạm tội có điều kiện cũng như quyết tâm thực hiện bằng được hành vi của mình cho đến cùng, vì vậy, tính nguy hiểm cũng cao hơn rất nhiều.

Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này có ý nghĩa như sau: là căn cứ quan trọng để phân biệt giữa các tội phạm và các vi phạm pháp luật khác; là dấu hiệu quan trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm; là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt…

b. Tính có lỗi của tội phạm hình sự

“Lỗi” được hiểu là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi, hậu quả mà mình gây ra. Lỗi chủ yếu được thể hiện dưới dạng cố ý và vô ý. Một người được cho là có lỗi nếu họ thực hiện hành vi đó trong khi họ có điều kiện, khả năng, thời gian… để lựa chọn thực hiện một hành vi khác không gây ra thiệt hại cho xã hội.

Có lỗi mà một nguyên tắc quan trọng của luật hình sự và  là dấu hiệu quan trọng của tội phạm. Sẽ ra sao nếu một người không có lỗi mà phải chịu trách nhiệm hình sự?

Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa phải áp dụng hình phạt – là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Mục đích của hình phạt theo luật hình sự Việt Nam là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ.

Mục đích này chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội – tức là khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một biện pháp xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

c. Tính trái pháp luật hình sự (tính được quy định trong BLHS) của tội phạm hình sự

Tính trái pháp luật hình sự hay tính được quy định trong BLHS là dấu hiệu bắt buộc ở hành vi mà bị coi là tội phạm. Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong BLHS. Đặc điểm này đã được pháp điển hoá tại Điều 2 BLHS “chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Nguyên tắc này cũng được xây dựng trên nguyên tắc chung trong tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hợp Quốc: “Không ai bị kết án vì một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm” (khoản 2 Điều 11).  Như vậy, một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng hành vi đó chưa được quy định trong BLHS thì không bị coi là tội phạm.

Đặc điểm này có ý nghĩa về phương diện thực tiễn là tránh việc xử lý tùy tiện của người áp dụng pháp luật,. Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi BLHS theo sát sự thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả.

d. Tội phạm hình sự do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện

Đây là dấu hiệu chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Người bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Theo đó, người có năng lực chịu TNHS là người đủ tuổi chịu TNHS được quy định tại Điều 12 BLHS 2015 và người không thuộc trường hợp mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vo do mắc bệnh được quy định tại Điều 21 BLHS 2015.

Năng lực TNHS là năng lực về mặt pháp lý phải được nhà nước xác định và thể hiện chính sách của Nhà nước ta.

Lưu ý, người mất năng lực nhận thức hay năng lực điều khiển hành vi vì mắc các bệnh tâm thần hay bệnh khác phải do cơ quan, cơ sở bệnh viện giám định, thể hiện bằng kết quả giám định bệnh tật, được Tòa án tuyên là người không có năng lực TNHS do mắc các bệnh tâm thần thì mới được chính thức công nhận về mặt pháp luật. Và tuyệt nhiên, tùy mức độ bệnh tật mắc phải khác nhau mà có phương án xử lý khác nhau.

Điểm đáng chú ý về chủ thể thực hiện hành vi đó là việc bổ sung chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại. Theo quy định tại điều 75 BLDS 2015 thì

“Pháp nhân thương mại là  pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.  Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác”.

Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

b) Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

c) Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

d) Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

Như vậy, về bản chất, pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể của TNHS đối với tội phạm do cá nhân thực hiện nhân danh  và lợi ích của pháp nhân thương mại, được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS… Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể là cá nhân bởi mọi hoạt động của pháp nhân được tiến hành hầu hết thông qua hành vi của những cá nhân. 

Tuy nhiên, khi pháp nhân thương mại phải chịu TNHS về tội phạm do người có năng lực TNHS thực hiện thì pháp nhân thương mại cũng có thể bị coi là đã thực hiện tội phạm và bị coi là chủ thể thực hiện phạm tội.

 

Trên đây là phần tư vấn của Công ty Luật Thái An về khái niệm tội phạm hình sự. Xin lưu ý là sau thời điểm chúng tôi viết bài này, luật pháp đã có thể thay đổi các quy định liên quan. Hãy gọi tới Tổng đài tư vấn Luật Hình Sự. Bạn sẽ được tư vấn trực tiếp và chính xác nhất về các vấn đề liên quan tới tội phạm hình sự.

4. Dịch vụ luật sư bào chữa hình sự của Luật Thái An

Hiến pháp nước ta và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đều quy định về quyền được thuê luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa”. Sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa, người phạm tội sẽ được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

===>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ


Tác giả bài viết:

Tiến sỹ luật học, Luật sư Nguyễn Văn Thanh – Giám đốc Công ty luật Thái An

  • Thành viên Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam
  • Lĩnh vực hành nghề chính:
    * Tư vấn pháp luật: Doanh nghiệp, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Lao động, Dân sự, Hình sự, Đất đai, Hôn nhân và gia đình
    * Tố tụng và giải quyết tranh chấp: Kinh doanh thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Lao động, Bảo hiểm, Dân sự, Hình sự, Hành chính, Đất đai, Hôn nhân và gia đình 

Xem thêm Luật sư Nguyễn Văn Thanh.

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 

Bề dày 14+ năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, đầu tư, dân sự, hình sự, đất đai, lao động, hôn nhân và gia đình... Công ty Luật Thái An cam kết cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng.

  • Để được Giải đáp nhanh - Hãy gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 633 725
  • Để được Tư vấn qua email – Hãy điền Form gửi yêu cầu (500.000 – 800.000đ /email) -
  • Để được Tư vấn bằng văn bản đóng dấu công ty – Hãy điền Form gửi yêu cầu (từ 1.000.000đ /văn bản)
  • Để được Cung cấp dịch vụ pháp lý trọn gói – Hãy điền Form gửi yêu cầu (Phí dịch vụ tuỳ thuộc tính chất vụ việc)
Lưu ý: Để nhận ý kiến tư vấn qua email hoặc văn bản đóng dấu công ty: Khách hàng thanh toán chuyển khoản lần 1 (50%) khi yêu cầu dịch vụ, lần 2 (50%) trước khi luật sư gửi văn bản tư vấn. Hãy liên hệ theo số đt 082 966 6868 (zalo) để được hướng dẫn.






    Contact Me on Zalo
    1900633725
    Yêu cầu dịch vụ

    Gọi điện cho luật sư
    Gọi cho luật sư

    Tư vấn văn bản
    Tư vấn văn bản

    Dịch vụ trọn gói
    Dịch vụ trọn gói