Tội vi phạm quy định về cạnh tranh: Tổng hợp các quy định
Tội vi phạm quy định về cạnh tranh thuộc nhóm tội phạm nghiêm trọng do khung hình phạt cao nhất của tội này là 5 năm.
Với bề dầy kinh nghiệm trong lĩnh vực luật hình sự, chúng tôi sẽ trình bầy những vấn đề cơ bản nhất về tội tội vi phạm quy định về cạnh tranh: các cấu thành tội phạm
- các khung hình phạt
- các căn cứ để toà án quyết định hình phạt cụ thể với từng người phạm tội
- các giai đoạn giải quyết vụ án và bào chữa cho bị cáo tội phạm này…
1. Cơ sở pháp lý quy định tội vi phạm quy định về cạnh tranh là gì ?
Cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm hình sự đối với tội tội vi phạm quy định về cạnh tranh là Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2. Thế nào là tội vi phạm quy định về cạnh tranh ?
Một người bị coi là phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh khi có các dấu hiệu sau đây. Các dấu hiệu này là các cấu thành tội phạm mà khi có đủ các cấu thành tội phạm này thì mới có thể kết luận người đó phạm tội.
>>> Xem thêm: Các yếu tố cấu thành tội phạm là gì?
a. Chủ thể của tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Chủ thể của tội phạm là tội vi phạm quy định về cạnh tranh người từ đủ 16 tuổi trở lên.
Không chỉ cá nhân mà pháp nhân thương mại (doanh nghiệp, hợp tác xã, các tổ chức kinh tế khác) cũng có thể chịu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về cạnh tranh, nếu:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
Việc pháp nhân thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.
Chi tiết hình phạt sẽ trình bầy ở phần sau.
b. Hành vi khi phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Các hành vi khách quan là trực tiếp tham gia hoặc thực hiện các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh thuộc một trong các trường hợp sau đây, thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng:
- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
- Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp:
- thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
- thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, nguồn cung dịch vụ;
- thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ;
- thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
- thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
Một số thí dụ minh họa về hành vi phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh:
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: Ví dụ: Hai doanh nghiệp sản xuất xi măng chiếm thị phần 50%, bí mật thỏa thuận nâng giá bán lên cùng một mức để chiếm lợi nhuận cao, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền: Ví dụ: Một công ty điện thoại di động chiếm hơn 70% thị phần, ép buộc đại lý chỉ được bán sản phẩm của họ, không được phân phối sản phẩm của hãng khác.
Tập trung kinh tế gây hạn chế cạnh tranh: Ví dụ: Hai chuỗi siêu thị lớn sáp nhập lại thành một chiếm trên 30% thị phần, khiến thị trường bán lẻ bị chi phối gần như hoàn toàn, hạn chế cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ.
c. Lỗi của chủ thể tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Lỗi của chủ thể là lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra:
- Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính gây thiệt hại (cho đối thủ cạnh tranh, cho người tiêu dùng, cho xã hội) của hành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả thiệt hại.
- Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả thiệt hại xảy ra. Người phạm tội thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội nhằm mục đích thâu tóm thị trường. Để đạt được mục đích này, người phạm tội chấp nhận hậu quả thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
3. Các khung hình phạt đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh là gì ?
a. Khung hình phạt 1
Người nào trực tiếp tham gia hoặc thực hiện các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh thuộc một trong các trường hợp sau đây, thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho người khác từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
b) Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
c) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp:
- thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
- thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, nguồn cung dịch vụ;
- thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ;
- thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
- thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
b. Khung hình phạt 2
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
c) Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
c. Hình phạt bổ sung
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
d. Hình phạt đối với pháp nhân thương mại
Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;
c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
4. Toà án quyết định mức hình phạt đối với người phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh như thế nào?
Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 217 nêu trên, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.
a. Các tình tiết tăng nặng
Các tình tiết tăng nặng đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh có thể là:
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;
- Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm.
và các tình tiết tăng nặng khác được quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015, chi tiết có tại bài viết CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG.
b. Các tình tiết giảm nhẹ đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Các tình tiết giảm nhẹ được quy định Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh, các tình tiết giảm nhẹ có thể là:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
- Người phạm tội là phụ nữ có thai;
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
- Người phạm tội tự thú;
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
- Người phạm tội đầu thú
và các tình tiết tăng nặng khác được quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự 2015, chi tiết có tại bài viết CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ .
Những lưu ý quan trọng:
Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo tội vi phạm quy định về cạnh tranh, Toà án có thể dựa vào Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, đó là:
- Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
- Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
- Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định nêu trên nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
c. Phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh CÙNG VỚI NHỮNG NGƯỜI KHÁC thì hình phạt thế nào?
Nếu đồng phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đối với phần đóng góp của mình trong vụ án. Dù tham gia ít hay nhiều vào việc phạm tội thì vẫn được coi là phạm tội. Căn cứ Điều 16 Bộ luật hình sự 2015 thì có các dạng đồng phạm sau:
- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
- Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
- Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
- Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
d. Có thể thay thế phạt tù bằng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh không ?
Do tội vi phạm quy định về cạnh tranh thuộc loại tội nghiêm trọng nên Toà án có thể xem xét, cân nhắc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ từ 06 tháng đến 03 năm, nếu người đó có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ Điều 36 Bộ luật hình sự 2015.
đ. Nếu phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh và các tội khác đồng thời thì hình phạt sẽ thế nào?
Nếu phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh và các tội khác đồng thời thì Toà án sẽ tổng hợp các hình phạt như sau, căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự 2015:
- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung;
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân;
- Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình;
- Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
- Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.
Lưu ý quan trọng: Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù: cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.
e. Có thể áp dụng án treo đối với người phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh không ?
Căn cứ Điều 65 Bộ Luât hình sự, người phạm tội vi phạm quy định về cạnh tranh nếu bị xử phạt tù không quá 03 năm, thì Toà án xem xét cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 05 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ.

5. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh là bao lâu?
Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm kể từ khi hành vi phạm tội xẩy ra.
6. Các giai đoạn giải quyết vụ án về tội vi phạm quy định về cạnh tranh và vai trò của luật sư bào chữa
Vụ án về tội vi phạm quy định về cạnh tranh được giải quyết qua nhiều giai đoạn tố tụng hình sự và luật sư có thể hỗ trợ khách hàng trong tất cả các giai đoạn đó:
a. Giai đoạn KHỞI TỐ VỤ ÁN về tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Khởi tố là khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra khi có căn cứ về tội phạm từ những tố giác, tin báo, kiến nghị, phát hiện…của người dân và cơ quan, tổ chức.
Cơ quan có thẩm quyền có thể là cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân.
Trong giai đoạn khởi này, luật sư sẽ tìm hướng bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh bằng cách:
- xác định xem đã đủ điều kiện để khởi tố đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh hay chưa? Trên thực tế có những vụ án mà cơ quan tố tụng vội vàng khởi tố vụ án, khởi tố bị can khi mới chỉ có lời tố cáo của bị hại, thiếu những bằng chứng vật chứng về hành vi tội vi phạm quy định về cạnh tranh (chưa có vật chứng, chưa có giám định, chưa có lời khai của người làm chứng…)
- kiểm tra căn cứ, thẩm quyền và trình tự khởi tố vụ án xem đã tuân thủ quy định của pháp luật chưa?
- …
Xem thêm: KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
b. Giai đoạn ĐIỀU TRA VỤ ÁN tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Trong giai đoạn này cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm soát của Viện Kiểm sát tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ cần thiết nhằm phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra.
Điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của cơ quan điều tra về việc đề nghị Viện Kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự.
Thời hạn điều tra vụ án về tội vi phạm quy định về cạnh tranh là 3 tháng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
Trường hợp cần gia hạn điều tra thì có thể gia hạn hai lần, lần thứ nhất không quá 3 tháng và lần thứ hai không quá 2 tháng. Nếu thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
Trong giai đoạn điều tra, bị can có thể bị tam giam để phục vụ công tác điều tra. Thời gian tạm giam bị can tội vi phạm quy định về cạnh tranh là 3 tháng. Thời hạn tạm giam có thể được gia hạn 1 lần không quá 2 tháng.
Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra kết luận đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra:
Trong giai đoạn điều tra, luật sư sẽ tìm hướng bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh bằng cách:
- thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ những chi tiết có lợi cho thân chủ trong vụ án
- tham gia hỏi cung bị can, nếu có căn cứ cho rằng bị can bị ép cung, bị mớm cung thì luật sư sẽ can thiệp kịp thời
- kiến nghị với cơ quan điều tra để thay đổi biện pháp ngăn chặn (chuyển từ tạm giam sang tại bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh…), triệu tập người làm chứng để lấy lời khai, thu thập chứng cứ, khắc phục hậu quả (thí dụ như tạo điều kiện để bị cáo bán tài sản để trả cho người bi hại)
Xem thêm: ĐIỀU TRA VỤ ÁN
c. TRUY TỐ VỤ ÁN tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Có thể hiểu đơn giản truy tố hình sự là một giai đoạn trong quá trình tố tụng hình sự sau khi kết thúc giai đoạn khởi tố và điều tra.
Truy tố hình sự do Viện kiểm sát thực hiện nhằm đưa người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử hoặc đưa ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án hình sự, ví dụ như quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
Đối với tội vi phạm quy định về cạnh tranh, Viện kiểm sát sẽ có quyết định truy tố trước Toà án, hoặc trả hồ để điều tra bổ sung, hoặc đình chỉ/tạm đình chỉ vụ án, bị can, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày.
Trong giai đoạn truy tố, luật sư sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ án và đưa ra đề xuất, kiến nghị với viện kiểm sát nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình. Các kiến nghị có thể là:
- kiến nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: chuyển sang tội danh nhẹ hơn hoặc sang khung hình phạt nhẹ hơn, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- kiến nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung
- kiến nghị để đình chỉ vụ án
Xem thêm: TRUY TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
d. Giai đoạn XÉT XỬ VỤ ÁN về tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là hoạt động xét xử vụ án hình sự ở cấp đầu tiên nhằm xem xét đánh giá toàn diện các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án hình sự trên cơ sở đó ra bản án, quyết định có hành vi phạm tội hay không, người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án. Cụ thể là:
- Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
- Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
- Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Đối với vụ án về tội vi phạm quy định về cạnh tranh, Toà án sẽ ra đưa ra một trong các quyết định như trên trong vòng 45 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.
Trong giai đoạn này, luật sư sẽ tìm hướng bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh bằng cách:
- Nghiên cứu hồ sơ, trong quá trình này luật sư sẽ định hình hướng bảo chữa/bảo vệ cho thân chủ
- Trao đổi với thân chủ để thống nhất hướng bào chữa, bảo vệ
- Trao đổi với cơ quan tiến hành tố tụng về các vấn đề như yêu cầu thu thập thêm bằng chứng, xác định tội danh tội vi phạm quy định về cạnh tranh, đảm bảo sự có mặt của các nhân chứng tại phiên toà …
- Chuẩn bị kế hoạch hỏi, luận cứ để tranh luận tại phiên toà
Xem thêm: XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
e. KHÁNG CÁO bản án ?
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay:
- Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày. Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong vòng 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án mới có hiệu lực pháp luật.
Trong giai đoạn kháng cáo bản án, luật sư tiếp tục bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh bằng cách:
- Luật sư tư vấn cho khách hàng về quyền, thời hạn, phạm vi, hậu quả của việc kháng cáo
- Luật sư hướng dẫn khách hàng làm đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo phải có các nội dung bắt buộc theo quy định, được ký hoặc điểm chỉ bởi người có quyền kháng cáo, kèm theo đơn là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo
- Luật sư tư vấn thủ tuc kháng cáo gồm việc nộp đơn tại Toà án nào, ở đâu, các bước nộp đơn và nhận giấy xác nhân nộp đơn kháng cáo của Toà án
Xem thêm: KHÁNG CÁO VỤ ÁN HÌNH SỰ
7. Luật sư bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh như thế nào?
Khi có căn cứ, luật sư có thể bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh theo một trong ba hướng:
- Hướng bào chữa bị can không có tội: Để làm được việc này thì cần phải có những căn cứ nhất định và luật sư cần “bám chặt” vào các căn cứ này để khai thác, tìm chứng cứ, thu thập chứng cứ ở mức tối đa.
- Hướng bào chữa giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Luật sư sẽ sử dụng những bằng chứng, căn cứ pháp lý để đề nghị Hội đồng xét xử chuyển sang tội danh nhẹ hơn hoặc khung hình phạt nhẹ hơn hoặc giảm nhẹ hình phạt.
- Hướng bào chữa trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Luật sư tìm căn cứ để để yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung, yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ khi thuộc một trong các trường hợp theo quy định.
Chi tiết có tại:
8. Dịch vụ thuê luật sư bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh của Luật Thái An
Sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa tội vi phạm quy định về cạnh tranh là sự lựa chọn rất khôn ngoan.
Với bề dầy kinh nghiệm tham gia các vụ án hình sự cùng sự tận tâm, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, các luật sư Công ty Luật Thái An sẽ tham gia tố tụng với tư cách luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo. Chúng tôi sẽ giúp:
- Bảo đảm tính khách quan của việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự: Với sự hiểu biết chuyên sâu pháp luật cùng kinh nghiệm giải quyết các vụ án, Luật sư thực hiện dịch vụ Luật sư bào chữa sẽ hạn chế được các vi phạm pháp luật tố tụng có thể xảy ra.
- Luật sư là chỗ dựa tinh thần, trấn an tâm lý cho người bị buộc tội, đưa ra những lời khuyên có lợi cho người bị buộc tội. Đồng thời luật sư sẽ giúp phát hiện được những tình tiết mới của vụ án hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
- Luật sư thực hiện việc bào chữa thông qua việc đưa ra những chứng cứ, những lập luận sắc bén bằng kiến thức chuyên môn của mình nhằm chống lại việc buộc tội, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
- Góp phần xác định sự thật của vụ án, đảm bảo vụ án được giải quyết khách quan, toàn diện, đúng quy định pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội
- Giúp thân chủ tiết kiệm được thời gian đi lại, chi phí và công sức mà vụ án vẫn được giải quyết một cách nhanh chóng, chính xác, đảm bảo tối đa các quyền lợi cho thân chủ.
>>> Xem thêm:
Thuê luật sư bào chữa cho bị cáo
- Vụ án ly hôn đơn phương giành quyền nuôi con - 04/06/2024
- LY HÔN VỚI CHỒNG ĐANG ĐI TÙ: THÀNH CÔNG BẤT CHẤP MỌI KHÓ KHĂN! - 04/06/2024
- Luật sư giúp khách hàng trong tranh chấp với Thẩm mỹ viện - 25/01/2024
