Công ty Luật Thái An được thành lập từ năm 2007. Chúng tôi có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn luật và giải quyết tranh chấp. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ giải đáp câu hỏi của khách hàng về vấn đề “Ly hôn rồi có thể ở nhà chồng hay không?”

Câu hỏi của khách hàng: 

Chào luật sư. Tôi tên là Huyền, 39  tuổi, hiện đang cư trú tại Bắc Ninh. Tôi với chồng tôi kết hôn năm 2008. Hiện nay, chúng tôi đang làm thủ tục ly hôn. Tôi định sau khi ly hôn sẽ chuyển công tác lên Hà Nội làm việc, nhưng do nhu cầu nhân sự của công ty thì phải 10 tháng nữa tôi mới được chuyển đi. Trước khi kết hôn, chồng tôi có một ngôi nhà do bố mẹ xây cho, khi kết hôn thì tôi dọn vào đó ở cùng chồng. Chồng tôi nói rằng đó là tài sản của anh ấy, không có phần của tôi. Tôi cũng nghĩ như vậy. Tuy nhiên, luật sư cho tôi hỏi, có cách nào mà sau khi ly hôn tôi vẫn được ở trong ngôi nhà đó của chồng cho đến khi tôi chuyển công tác không, vì tôi không muốn đi ở trọ chút nào. Tôi xin cảm ơn.

Luật Thái An trả lời câu hỏi: 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi. Chúng tôi xin trả lời như dưới đây:

1. Cơ sở pháp lý để trả lời câu hỏi: Ly hôn rồi có thể ở nhà chồng hay không ?

Cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật sau đây:

  • Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13
  • Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình

2. Vấn đề tài sản riêng của vợ chồng khi ly hôn:

Theo điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

“Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”

Theo đó, tài sản mà vợ chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, tài sản được chia riêng cho vợ chồng hoặc vợ chồng thỏa thuận là tài sản riêng thì là tài sản riêng của vợ chồng. Trong trường hợp của bạn, ngôi nhà mà chồng bạn được bố mẹ xây cho trước khi kết hôn sẽ được coi là tài sản riêng của chồng, do đây là tài sản hình thành trước hôn nhân, trừ trường hợp hai bạn thỏa thuận đó là tài sản chung và đưa tên bạn vào cùng đứng tên ngôi nhà.

Trong trường hợp ngôi nhà là tài sản riêng nêu trên thì sau khi ly hôn, ngôi nhà sẽ vẫn là tài sản của chồng bạn và sẽ không được chia như tài sản chung theo quy định của pháp luật hiện hành.

3. Ly hôn rồi có thể ở nhà chồng hay không ?

Như đã nói ở trên, sau khi ly hôn, ngôi nhà thuộc sở hữu riêng của chồng bạn. Chồng bạn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà, có quyền sử dụng, định đoạt và chiếm hữu ngôi nhà, làm bất kỳ điều gì với ngôi nhà mà pháp luật không cấm theo quy định của Bộ luật dân sự. Chính vì thế, chồng bạn có quyền quyết định ai có thể ở trong ngôi nhà của mình và ở trong bao lâu. Nếu bạn muốn tiếp tục ở trong ngôi nhà của chồng mình, bạn có thể thỏa thuận với chồng về việc cho phép mình tiếp tục ở lại trong ngôi nhà. Điều này pháp luật hoàn toàn cho phép.

Nếu chồng bạn không đồng ý thì theo điều 63 luật Hôn nhân và gia đình quy định về quyền lưu cư của vợ hoặc chồng khi ly hôn thì:

“Nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung thì khi ly hôn vẫn thuộc sở hữu riêng của người đó; trường hợp vợ hoặc chồng có khó khăn về chỗ ở thì được quyền lưu cư trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

4. Ly hôn rồi có thể ở nhà chồng bao lâu ?

Tiếp theo phân tích ở mục 4 như trên, trường hợp bạn có khó khăn về chỗ ở thì bạn được phép lưu cư, tức là được phép ở lại trong ngôi nhà của chồng bạn trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hôn nhân chấm dứt. Quy định này của pháp luật mang tính nhân văn, tạo điều kiện cho bên khó khăn có thể bắt đầu và thích nghi với cuộc sống mới một cách dễ dàng hơn. Việc lưu cư trong vòng 06 tháng này là theo quy định của pháp luật, không cần sự đồng ý của người sở hữu riêng nhà với điều kiện là người lưu cư phải chứng minh mình là người có khó khăn về chỗ ở.

Theo điều 57 luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thời điểm chấm dứt hôn nhân và trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn thì:

“1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.”

Theo đó, thời hạn 06 tháng được tính từ ngày quan hệ hôn nhân chấm dứt, tức là từ ngày bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật.

 

Trên đây là phần tư vấn về vấn đề ly hôn rồi có thể ở nhà chồng hay không. Để được tư vấn chi tiết hơn và được giải đáp các thắc mắc trong từng trường hợp cụ thể, hãy gọi Tổng đài tư vấn luật hôn nhân và gia đình của Luật Thái An – luật sư sẽ giải thích cặn kẽ những gì chưa thể hiện được hết trong bài viết này.

5. Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết ly hôn của Luật Thái An

Sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết ly hôn là một lựa chọn khôn ngoan bởi luật sư sẽ giúp bạn bảo vệ lợi ích hợp pháp một cách tối đa khi chia tài sản vợ chồng, khi giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng cho con. Hơn nữa, việc ly hôn sẽ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều so với bạn tự mầy mò thực hiện các thủ tục ly hôn, đơn giản vì bạn chưa có kinh nghiệm và không hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ.

Nếu bạn cần dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết ly hôn cho mình, bạn vui lòng tham khảo dịch vụ của chúng tôi khi xem bài viết Dịch vụ ly hôn. Ngoài ra, Bảng giá dịch vụ có tại bài viết Bảng giá dịch vụ ly hôn và giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình.

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

1900633725