Theo các báo cáo thống kê, tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam đã tăng lên trong những năm gần đây, phản ánh sự thay đổi trong giá trị xã hội và kinh tế. Nguyên nhân của việc này có thể bao gồm sự không hòa hợp về mặt tình cảm, xung đột gia đình, hoặc khó khăn kinh tế. Ly hôn để lại nhiều hệ lụy đến đời sống văn hóa, xã hội, cho nên vấn đề này được pháp luật quy định chặt chẽ. Cùng tìm hiểu các vấn đề pháp lý về ly hôn ở Việt Nam qua bài viết dưới đây của đội ngũ luật sư Công ty Luật Thái An:
1. Tìm hiểu về ly hôn
Ly hôn là việc chấm dứt hợp pháp một cuộc hôn nhân, do sự không hòa hợp trong cuộc sống chung của vợ và chồng mà không còn khả năng tiếp tục duy trì. Việc này có thể xảy ra do nhiều lý do, bao gồm nhưng không giới hạn ở mâu thuẫn, xung đột, hoặc những vấn đề tài chính. Một số nguyên nhân phổ biến:
- Xung đột và bất đồng quan điểm: Điều này có thể liên quan đến vấn đề về giáo dục con cái, quản lý tài chính, quan điểm về cuộc sống, và những vấn đề khác. Khi một cặp vợ chồng không thể giải quyết xung đột và bất đồng quan điểm, họ có thể quyết định ly hôn.
- Vấn đề về tình dục: Điều này có thể bao gồm cả sự không hài lòng về cuộc sống tình dục, tình dục ngoại lệ, hoặc sự khác biệt về khát vọng tình dục.
- Giao tiếp không hiệu quả: Khi cả hai không thể giao tiếp hiệu quả với nhau, họ có thể cảm thấy bị lạc lõng, không được hiểu và không được ủng hộ.
- Hành vi lạm dụng: Điều này bao gồm cả lạm dụng vật lý và tình dục, lạm dụng tinh thần, và lạm dụng kinh tế. Những hành vi này có thể dẫn đến việc ly hôn.
- Vấn đề tài chính: Các khó khăn tài chính hoặc quan điểm khác nhau về việc quản lý tiền bạc có thể gây ra căng thẳng và dẫn đến việc ly hôn.
- Không còn yêu nhau: Đôi khi, một hoặc cả hai người trong một cặp vợ chồng có thể cảm thấy họ không còn yêu nhau như trước.
Những lý do trên đều phổ biến và có thể gây ra ly hôn. Tuy nhiên, mỗi cặp vợ chồng đều khác biệt, và có thể có nhiều yếu tố phức tạp khác ảnh hưởng đến quyết định của họ về việc ly hôn.
Trước khi ly hôn, hai vợ chồng có thể ly thân. Cần phân biệt rõ ly thân và ly hôn, chi tiết có tại bài viết sau:
2. Định nghĩa ly hôn theo quy định của pháp luật
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình 2014 nêu rõ: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
- Tòa án là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hai hình thức: bản án hoặc quyết định.
- Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn thỏa thuận với nhau giải quyết được tất cả các nội dung quan hệ vợ chồng khi ly hôn thì Tòa án công nhận ra phán quyết dưới hình thức là quyết định.
- Nếu vợ chồng có mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án ra phán quyết dưới dạng bản án ly hôn.
Như vậy, Ly hôn dược định nghĩa tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 theo đó ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
3. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
Theo Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014, những người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn bao gồm
- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Lưu ý: Để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và đứa trẻ, pháp luật quy định chồng KHÔNG có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Theo Điều 52 Luật HN & GĐ, Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Việc hòa giải tại cơ sở là không bắt buộc, nhưng việc hòa giải tại tòa án là bắt buộc. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cớ 2 cách thức ly hôn đó là: Thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên (ly hôn đơn phương) Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận ly hôn thuận tình. Ly hôn thuận tình sẽ được thực hiện theo các bước sau đây: Chi tiết có tại bài viết THỦ TỤC LY HÔN THUẬN TÌNH Ly hôn đơn phương là ly hôn theo yêu cầu của một bên (người vợ hoặc người chồng), người kia thuộc một hoặc vài hoặc tất cả các trường hợp sau: Ly hôn đơn phương là vụ án và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, gồm các bước sau: Một số lưu ý quan trọng: Ngoài ra, còn có các trường hợp mà thủ tục ly hôn khá khác biệt, đó là: Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật dân sự 2015, hôn nhân là quyền nhân thân của mỗi cá nhân. Do đó, trong vấn đề ly hôn, pháp luật dân sự có những quy định bắt buộc đương sự phải trực tiếp tham gia thực hiện các thủ tục tố tụng tại Toà án mà không thể ủy quyền cho người khác thực hiện. Tại khoản 4 điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ghi rõ: Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện. Như vậy, vợ, hoặc chồng (hoặc cả hai) muốn thực hiện ly hôn phải tự mình đến Tòa án để giải quyết. Trừ trường hợp bị tâm thần hoặc mắc bệnh không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình… thì cha, mẹ hoặc người thân thích khác được phép trở thành người đại diện. Chi tiết có tại bài viết sau: Ly hôn không chỉ là chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng. Hệ quả trực tiếp của việc ly hôn là phân chia quyền nuôi con khi ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng. Đây là 2 vấn đề khá đau đầu, trong một số vụ án ly hôn đơn phương thì đây là 2 tranh chấp gay gắt. Theo quy định tại điều 81 Luật Hôn nhâ gia đình 2014 vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Chi tiết có tại: Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 mức cấp dưỡng được quy định như sau: “1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.” Như vậy, tiền cấp dưỡng nuôi con được tính dựa trên thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và dựa trên nhu cầu thiết yếu của con. Cần lưu ý rằng nhu cầu của con là nhu cầu thiết yếu bởi lẽ nhu cầu của con người thì rất nhiều, nhưng chỉ những nhu cầu thiết yếu mới là căn cứ để xác định mức cấp dưỡng nuôi con. Chi tiết có tại bài viết sau: Cùng với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, cha, mẹ không trực tiếp nuôi con vẫn phải đảm bảo quyền được chăm sóc, giáo dục của con. Theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn 3.Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.” Như vậy, pháp luật đã quy định một cách tương đối rõ ràng về quyền thăm nuôi con sau ly hôn của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam chưa quy định cụ thể cơ chế xác định cách thức và thời gian, số lần, địa điểm thăm nom con của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, việc đưa đón con đi chơi có phải được sự đồng ý của người trực tiếp nuôi con hay không? Cách thức, thời gian, địa điểm thăm nom con do các bên thỏa thuận trên cơ sở quyền lợi của con và phải được Tòa án công nhận hoặc Tòa án quyết định nếu không thỏa thuận được. Xem thêm tại: Không hiếm trường hợp hợp sau khi ly hôn một thời gian, cha, mẹ thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con, do có những sự thay đổi trong cuộc sống của người cha, người mẹ, trong quá trình khôn lớn của con. Người cha, người mẹ gửi đơn yêu cầu công nhận việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tới Toà án nhân dân cấp huyện nơi người cha hoặc người mẹ cư trú. Toà án sẽ xem xét, thụ lý đơn yêu cầu và ra quyết định theo quy định của pháp luật. Xem chi tiết tại: Thay đổi quyền nuôi con sau ly hôn / Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. (Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó). Việc chia tài sản chung theo nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này (Lao động của vợ, chồng trong gia đình như nội trợ, rửa chén, lau chùi nhà cửa, là, giặt áo quần…. được coi như lao động có thu nhập). Nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình cũng được coi trọng. Ngoài ra phải bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập. Luật hôn nhân gia đình có những quy định cụ thể về các trường hợp sau: Nếu vợ chồng có những vấn đề về chia tài sản chung thì các thông tin của chúng tôi sẽ vô cùng hữu ích, bạn hãy xem bài viết TẠI ĐÂY. Trường hợp ly hôn yếu tố nước ngoài ở Việt Nam thường liên quan đến những tình huống như một trong hai vợ chồng là người nước ngoài, hôn nhân được kết hợp ở nước ngoài, hoặc cả hai vợ chồng đều là người Việt nhưng đang sinh sống ở nước ngoài. Theo pháp luật Việt Nam, ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể được giải quyết theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các bên có thể chọn áp dụng luật của quốc gia nơi hôn nhân được kết hợp, nơi thường trú của một trong hai bên, hoặc quốc tịch của một trong hai bên. Tuy nhiên, nếu một trong hai bên có quốc tịch hoặc thường trú tại Việt Nam, luật Việt Nam sẽ được ưu tiên áp dụng. Theo Điều 127 Luật HN&GĐ năm 2014 thì: Chi tiết có tại: Ngoài ra việc ly hôn cũng dấn đến nhiều tác động và hệ lụy về tình cảm mà bạn cần biết để đối mặt. Mặc dù những hậu quả này có thể gây ra nhiều khó khăn, nhưng cũng cần nhớ rằng trong một số trường hợp, ly hôn có thể là lựa chọn tốt nhất để đảm bảo sự khỏe mạnh và hạnh phúc của các cá nhân, đặc biệt khi hôn nhân gặp phải vấn đề nghiêm trọng như lạm dụng hoặc bạo lực gia đình. Nếu khách hàng có những thắc mắc về liên quan đến vấn đề hôn nhân, ly hôn, bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi để lựa chọn luật sư ly hôn hỗ trợ cho mình hiệu quả. Xem thêm tại:
4. Khuyến khích hòa giải ly hôn ở cơ sở
5. Các cách thức và thủ tục ly hôn
a. Trường hợp ly hôn thuận tình
b. Ly hôn theo yêu cầu của một bên (Ly hôn đơn phương)
c. Có thể ủy quyền cho người khác làm thủ tục ly hôn được không ?
6. Vấn đề con cái khi ly hôn
a. Quyền trực tiếp nuôi con khi ly hôn
b. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của người không trực tiếp nuôi con
c. Thăm nom con sau khi ly hôn
d. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
7. Giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
8. Ly hôn có yếu tố nước ngoài
9. Hệ lụy của việc ly hôn
