Các hướng bào chữa nhóm tội xâm phạm sở hữu là gì ?

Tội xâm phạm sở hữu ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi trong xã hội chúng ta. Phương thức và thủ đoạn chiếm đoạt tài sản có thể rất tinh vi, thông qua hoạt động bán hàng đa cấp, qua giao dịch trên mạng, qua các hoạt động giao dịch hợp đồng.. Do đó, xét xử các vụ án tội phạm loại này rất khó khăn và phức tạp. Luật sư với vai trò bào chữa cho bị cáo hoặc bảo vệ cho bị hại trong các vụ án này cũng phải làm việc hết sức vất vả. Trong bài viết sau đây, chúng tôi sẽ đưa ra các hướng bào chữa nhóm tội xâm phạm sở hữu.

1.Thế nào là tội xâm phạm sở hữu ?

Các tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của các nhân, tổ chức. Quyền sở hữu thể hiện ở ba quyền năng, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Các tội phạm xâm phạm sở hữu có thể xâm phạm 1, 2 hoặc cả 3 quyền năng này.

Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XVI của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 từ Điều 168 đến Điều 180, gồm 13 tội danh và được chia ra làm 2 nhóm:

  • Các tội xâm phạm sở hữu tính chiếm đoạt;
  • Các tội xâm phạm sở hữu không tính chiếm đoạt.

a. Các tội xâm phạm sở hữu tính chiếm đoạt:

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm:

  • Tội cướp tài sản (điều 168)
  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 169)
  • Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170)
  • Tội cướp giật tài sản  (điều 171)
  • Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 172)
  • Tội trộm cắp tài sản (điều 173)
  • Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174)
  • Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175)
  • Tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176)
  • Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178)

b. Các tội xâm phạm sở hữu không tính chiếm đoạt:

Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chiếm đoạt gồm:

  • Tội sử dụng trái phép tài sản (điều 177)
  • Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (điều 179)
  • Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (điều 180)
tội xâm phạm sở hữu
Các tội xâm phạm sở hữu ngày càng trở nên tinh vi. – ảnh minh hoạ: Luật Thái An

2. Cấu thành tội phạm đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu

Pháp luật hình sự quy định có rất nhiều loại tội phạm khác nhau dựa trên cơ sở phân chia về quan hệ xã hội, yếu tố về lỗi… Nhìn chung các tội phạm đều được hợp thành bởi các yếu tố nhất định. Điều này có ý nghĩa trong việc xác định một người đã thực hiện hành vi được cho là tội phạm hay chưa, hay việc thực hiện hành vi đó phạm tội ở mức độ nào.

>>> Xem thêm: Cấu thành tội phạm

a. Khách thể của nhóm tội xâm phạm sở hữu

Đối tượng xâm phạm của nhóm tội này rất đa dạng, đó là tất cả các loại tài sản hữu hình và vô hình, là tài sản có chủ sở hữu hoặc quản lý, tài sản có thể tạm thời không được quản lý nhưng đã có chủ sở hữu hợp pháp. Ngoài các tài sản thông thường, đối tượng của loại tội phạm này còn có thể là ma tuý, vũ khí, công trình…

b. Hành vi của nhóm tội xâm phạm sở hữu

Hành vi phạm tôi xâm phạm sở hữu cũng rất đa dạng, có thể là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt, có thể là hành vi chiếm đoạt bằng các thủ đoạn khác, các hành vi huỷ hoại, làm hư hỏng, sử dụng trái phép, vô ý gây thiệt hại…

Phương thức và thủ đoạn chiếm đoạt tài sản có thể thông thường như cướp giật, nhưng có thể rât tinh vi, thông qua hoạt động bán hàng đa cấp, qua giao dịch trên mạng, qua các hoạt động giao dịch hợp đồng..

c. Chủ thể tội xâm phạm sở hữu

Đa số các tội xâm phạm sở hữu là người thành niên (từ đủ 18 tuổi) và có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, người từ đủ 14 tuổi tới dưới 16 tuổi cũng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội danh, đó là:

  • Tội cướp tài sản (điều 168)
  • Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (điều 169)
  • Tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170)
  • Tội cướp giật tài sản  (điều 171)
  • Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 172)
  • Tội trộm cắp tài sản (điều 173)
  • Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174)
  • Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175)
  • Tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176)
  • Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178)

d. Chủ quan của tội phạm tội xâm phạm sở hữu

Mục đích chiếm đoạt tài sản

Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong hầu hết các cấu thành tội phạm đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu, thí dụ như tội cưóp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản sẽ xuất hiện trước hoặc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Trên thực tế vẫn có những trường hợp mục đích chiếm đoạt tài sản lại xuất hiện sau khi bị can, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Yếu tố lỗi khi thực hiện hành vi

Đối với hầu hết các tội danh, chủ thể thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Chỉ có một số trường hợp thì chủ thể thực hiện hành vi với lỗi vô ý vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Các hướng bào chữa cho bị cáo nhóm tội xâm phạm sở hữu là gì?

Khi có căn cứ vững chắc, luật sư có thể bào chữa cho bị cáo tội xâm phạm sở hữu theo một trong các hướng không phạm tôi, giảm nhẹ tội hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

a. Bào chữa cho bị cáo nhóm tội xâm phạm sở hữu theo hướng không phạm tội

Nếu bào chữa theo hướng này thì dựa vào các căn cứ, chứng cứ, sự kiện, tài liệu trong vụ án, luật sư sẽ chứng minh bị cáo:

  • không có mục đích chiếm đoạt tài sản, và/hoặc
  • thực hiện không do lỗi cố ý, và/hoặc
  • bị cáo chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, và/hoặc
  • thiệt hại về tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
  • chưa bị phạt vi phạm hành chính hoặc chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản; tài sản không phải là phương tiện kiếm sống chính của gia đình người bị hại, không phải là kỷ vật, di vật… (áp dụng đối với một số tội danh)

b. Bào chữa cho bị cáo nhóm tội xâm phạm sở hữu theo hướng giảm nhẹ

Chuyển sang tội danh nhẹ hơn

Khi có căn cứ, Luật sư đưa ra các bằng chứng trong hồ sơ vụ án để chứng minh hành vi của bị cáo thỏa mãn một tội danh khác nhẹ hơn, thí dụ:

  • chuyển từ tội danh cướp giật tài sản sang tội danh cưỡng đoạt tài sản, trộm cắp tài sản
  • chuyển từ tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản sang tội danh chiếm giữ trái phép tài sản hoặc sử dụng trái phép tài sản

Chuyển sang khung hình phạt nhẹ hơn

Để chứng minh theo hướng này, đối với các vụ án về xâm phạm sở hữu, Luật sư sẽ phải tìm ra căn cứ về tình tiết định khung như: phạm tội không có tổ chức, phạm tội không có tính chất chuyên nghiệp, không dùng thủ đoạn xảo quyệt…

Ngoài ra, Luật sư cũng lưu ý khai thác và đánh giá lại mức thiệt hại đối với tài sản do hành vi của bị can, bị cáo gây ra.

Áp dụng tình tiết giảm nhẹ

Trong các vụ án về xâm phạm sở hữu, luật sư khai thác về các tình tiết giảm nhẹ:

  • người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả
  • người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
  • người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo

>>> Xem thêm: Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Khi quyết định mức hình phạt, Toà án có thể dựa vào Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, đó là:

  • Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.
  • Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét nhân thân bị cáo

Đối với người phạm tội xâm phạm sở hữu thì các bị cáo có thể rất trẻ. Nếu dưới 18 tuổi thì luật sư sẽ dựa vào các quy định của Bộ luật hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi để bào chữa giảm nhẹ hình phạt.

Trường hợp bị can, bị cáo có hoàn cảnh gia đình đặc biệt, là hậu quả của các tệ nạn xã hội, là trẻ em phạm tội trộm cắp tài sản chỉ do hoàn cảnh gia đình (cha mẹ không hạnh phúc, đẩy các em vào cuộc sống lang thang, cơ nhỡ …) khi đó luật sư yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, hoàn cảnh phạm tội để quyết định hình phạt nhẹ hơn.

Nếu bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị truy tố không quá 3 năm tù thì luật sư căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

các hướng bào chữa tội xâm phạm sở hữu
Các hướng bào chữa cho bị cáo trong vụ án tội xâm phạm sở hữu. 

c. Bào chữa cho bị cáo nhóm tội xâm phạm sở hữu theo hướng điều tra bổ sung

Căn cứ Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Luật sư có thể đề xuất Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp sau:

  • Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

  • Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm;

  • Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

  • Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

Để có thể yêu cầu Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung, luật sư thu thập các chứng cứ để chứng mình các vấn đề cơ bản sau:

  • Có hành vi phạm tội xảy ra hay không? Hành vi là gì ? Trong nhóm tội xâm phạm sở hữu thì nhiều trường hợp việc điều tra làm rõ hành vi (để đánh giá ý thức chiếm đoạt tài sản) sẽ dẫn tới việc thay đổi tội danh: tội như tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, hay tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Ai là người thực hiện hành vi phạm tội?
  • Người phạm tội có lỗi hay không có lỗi khi thực hiện hành vi bị truy tố?
  • Mục đích, động cơ phạm tội là gì ?
  • Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra là gì? để đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội cũng như đế giải quyết vấn đề dân sự.

Ngoài ra, nếu nhận thấy có vị phạm nghiêm trọng trong thủ tục tố tụng thì luật sư cũng có thể đề xuất Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Lưu ý: Khi bào chữa theo hướng trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì vụ việc sẽ kéo dài, luật sư sẽ lưu ý điều này cho khách hàng.

Trên đây là phần phân tích về vai trò quan trọng của luật sư trong các vụ án về tội xâm phạm sở hữu. Nếu bạn có những thắc mắc cụ thể, chi tiết hoặc mong muốn được làm rõ những điều còn chưa hiểu, hãy nhấc điện thoại để gọi tới Tổng đài tư vấn pháp luật của Công ty Luật Thái An.

4. Dịch vụ thuê luật sư hình sự của Luật Thái An

Sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn và tham gia tố tụng là sự lựa chọn rất khôn ngoan. Bởi bạn sẽ hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền và lợi ích hợp pháp của bạn sẽ được bảo đảm.

Các luật sư Luật Thái An sẽ tham gia tố tụng với tư cách luật sư bào chữa cho bị cáo hoặc luật sư bảo vệ bị hại trong các vụ án hình sự. Chúng tôi sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng tối đa, chúng tôi làm việc với sự tận tâm, uy tín, thù lao hợp lý:

>>> Xem thêm: Dịch vụ thuê luật sư bào chữa

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI LUẬT SƯ ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN LUẬT VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÁP LÝ!

Nguyễn Văn Thanh