Các quy định của pháp luật về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự luôn nhận được sự quan tâm lớn của mọi người. Bởi đây là căn cứ quan trọng để xác định việc có hay không việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mọi người. Chính vì tầm quan trọng như vậy mà các quy định về điều kiện để tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là rất khắt khe. Đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải thật sự công tâm, khách quan, trung thực.

Công ty Luật Thái An với mong muốn tội phạm ở nước ta ngày càng giảm và dẫn đến bị loại trừ, chúng tôi sẽ có bài viết tư vấn về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong bài viết sau đây.

1.Cơ sở pháp lý quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Cơ sở pháp lý quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là Bộ Luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.

2. Khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn mà người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đó. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự do Bộ luật hình sự quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thể hiện sâu sắc chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người phạm tội. nếu trong một thời gian nhất định người phạm đã tự hối cải, làm ăn lương thiện, không phạm tội mới, không trốn tránh sự trừng trị của pháp luật thì việc truy cứu TNHS là không cần thiết, bởi vì hành vi nguy hiểm cũng như bản thân người phạm tội lúc đó đã không còn nguy hiểm cho xã hội.

Hơn nữa, việc truy cứu TNHS lúc này sẽ không đạt được mục đích của hình phạt. Thời hiệu truy cứu TNHS nói chung được tính từ thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện.

===>>> Xem thêm: Các hình phạt đối với người phạm tội hình sự. 

3. Các quy đinh của pháp luật về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

  • Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự 2015  thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

    • Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng: Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

    • Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng: Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù

    • Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng: Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy him cho xã hội rất ln mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.
    • Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Để xác định tội phạm nào là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ không căn cứ vào mức án mà tòa đã tuyên mà căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy.

Nếu mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù là tội phạm ít nghiêm trọng; đến bảy năm tù là tội phạm nghiêm trọng; đến mười lăm năm tù là tội phạm rất nghiêm trọng; đến chung thân hoặc tử hình là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Nếu các thời hạn trên đã qua mà các cơ quan bảo vệ pháp luật vì lí do nào đó không phát hiện được, hoặc phát hiện được nhưng bỏ qua không điều tra, truy tố, xét xử rên người phạm tội sẽ không bị truy cứu TNHS về tội mà họ đã thực hiện.

===>>> Xem thêm: Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự.

  • Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện

Nếu thời hiệu nêu trên đã qua mà cơ quan có trách nhiệm vì một lý do nào đó mà không biết hoặc bỏ qua thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm.

Ví dụ: Ngày 05/01/2010 Nguyễn Văn A mượn chiếc xe máy của chị Bùi Thu B để đưa mẹ vào bệnh viện khám bệnh, nhưng sau đó A không trả lại chiếc xe cho chị B mà bán được 10 triệu đồng đánh bạc bị thua hết nên A đã bỏ trốn vào miền Nam ở với chị gái. Ngày 05/10/2013 Nguyễn Văn A về gia đình. Sau khi về nhà, A hứa với chị B sẽ bồi thường chiếc xe máy cho chị, nên chị B không tố cáo hành vi phạm tội của A với Cơ quan điều tra.

Chờ mãi không thấy A bồi thường chiếc xe máy cho mình, nên ngày 20/02/2015 chị B đã làm đơn tố cáo hành vi phạm tội của Nguyễn Văn A với Cơ quan điều tra. Sau khi xác định hành vi phạm tội của Nguyễn Văn A là hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 và là tội phạm ít nghiêm trọng nên đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn A.

===>>> Xem thêm: Thời hạn thi hành bản án hình sự.

thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Các quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bạn chưa biết – Nguồn ảnh minh họa: Internet.
  • Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt từ một năm tù trở lên thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ tính lại kể từ ngày phạm tội mới

Ví dụ: Ngày 01/01/2010 Bùi Đình V phạm tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 318 BLHS 2015 nhưng chưa bị khởi tố điều tra, đến ngày 10/12/2014, V lại phạm tội trộm cắp tài sản và đến ngày 30/6/2015 cơ quan điều tra mới phát hiện hành vi phạm tội trộm cắp.

Nếu căn cứ vào thời hiệu truy trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng thì sau ngày 01/01/2015 là đã hết, nhưng trước đó (10/12/2014) V lại phạm tội mới nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội gây rối trật tự nơi công cộng lại được tính từ ngày 10/12/2014 chứ không phải từ ngày 01/01/2010. Vì vậy V phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả hai tội: tội trộm cắp tài sản và tội gây rối trật tự công cộng.

===>>> Xem thêm: Các trường hợp được giảm hình phạt.

  • Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính; thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.

Cố tình trốn tránh là: Cố tình giấu địa chỉ, ẩn náu làm cho các cơ quan có trách nhiệm không biết ở đâu hoặc trốn ra nước ngoài. Việc quy định này là cần thiết nhằm đảm bảo cho chế định thời hiệu có tác dụng tích cực, khuyến khích người phạm tội muốn được hưởng thời hiệu thì phải hối cải, tự cải tạo, giáo dục và sống bình thường một thời gian dài trong xã hội.

Ví dụ: Ngày 25-9-1998 B cùng đồng bọn phạm tội giết người cướp tài sản, sau khi phạm tội B đã trốn ra nước ngoài định cư và nhập quốc tịch nước ngoài nên cơ quan điều tra đã truy nã nhưng không bắt được. Ngày 20-4-2005, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, B với tư cách là Việt kiều về thăm quê hương thì bị nhân dân phát hiện báo cho cơ quan điều tra bắt giữ.

Nếu tính thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự thì trường hợp đối với B đã hết (quá 15 năm), nhưng trong thời hạn đó, B đã bỏ trốn ra nước ngoài và có lệnh truy nã nên thời gian bỏ trốn của B không được tính vào thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu trong thời gian người phạm tội bỏ trốn nhưng cơ quan điều tra không ra lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh lại được tính vào thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: Ngày 25-1-2000 Bùi Văn Đ lấy trộm con dấu của cơ quan rồi bỏ trốn vào Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng sinh sống, cơ quan của Đ đã báo cho cơ quan công an, nhưng vì Đ đã bỏ trốn nên cơ quan điều tra không khởi tố vụ án và cũng không ra lệnh truy nã đối với Đ. Ngày 30-2-2005, nhân dịp vào Đà Lạt công tác, thủ trưởng cơ quan của Đ phát hiện Đ đang đi chơi trong thành phố Đà Lạt nên đã báo cho công an bắt giữ Đ.

Sau khi Đ bị bắt cơ quan điều tra đã xác định hành vi phạm tội của Đ thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật hình sự có mức hình phạt cao nhất là hai năm tù, thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự là 5 năm. Tuy Đ bỏ trốn nhưng cơ quan điều tra không ra lệnh truy nã nên thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đ đã hết, do đó cơ quan điều tra không khởi tố bị can đối với Bùi Văn Đ.

Việc quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đòi hỏi khách quan và hết sức cần thiết. Quy định này khuyến khích người đã thực hiện tội phạm muốn được hưởng chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước thì phải thật sự hối cải, tự cải tạo, giáo dục, sống lương thiện ngoài xã hội. Việc xác định được các yếu tố này chính xác sẽ tránh được những điểm tiêu cực trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm.

===>>> Xem thêm: Các trường hợp được miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt.

4. Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Do những tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; tội tham ô tài sản được quy định tại điều Điều 28 BLHS 2015 sẽ không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể là các tội:

1. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

2. Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này;

3. Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015, ngoài việc vẫn giữ nguyên quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI, khoản 3 Điều 28 còn bổ sung thêm hai tội khác vào các trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: tội tham ô tài sản theo khoản 3 và khoản 4 Điều 353; tội nhận hối lộ theo khoản 3 và khoản 4 Điều 354.

Như vậy, người phạm tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ nếu thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng sẽ không được áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Việc quy định các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm trên thể hiện tinh thần kiên quyết không khoan nhượng cho những tội phạm ảnh hưởng đến việc xây dựng và bảo vệ Nhà nước của dân, do dân, vì dân; bảo vệ hòa bình chống chiến tranh xâm lược và phòng chống tội phạm tham nhũng.

===>>> Xem thêm:  Các trường hợp được miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt.

Trên đây là phần tư vấn của Công ty Luật Thái An về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Xin lưu ý là sau thời điểm chúng tôi viết bài này, luật pháp đã có thể thay đổi các quy định liên quan. Hãy gọi tới Tổng đài tư vấn Luật Hình Sự. Bạn sẽ được tư vấn trực tiếp và chính xác nhất về các vấn đề liên quan tới tội phạm hình sự.

5. Dịch vụ luật sư bào chữa hình sự của Luật Thái An

Hiến pháp nước ta và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đều quy định về quyền được thuê luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa”. Sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa, người phạm tội sẽ được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

===>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 

Bề dày 14+ năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, đầu tư, dân sự, hình sự, đất đai, lao động, hôn nhân và gia đình... Công ty Luật Thái An cam kết cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng.

  • Để được Giải đáp nhanh - Hãy gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 633 725
  • Để được Tư vấn qua email – Hãy điền Form gửi yêu cầu (500.000 – 800.000đ /email) -
  • Để được Tư vấn bằng văn bản đóng dấu công ty – Hãy điền Form gửi yêu cầu (từ 1.000.000đ /văn bản)
  • Để được Cung cấp dịch vụ pháp lý trọn gói – Hãy điền Form gửi yêu cầu (Phí dịch vụ tuỳ thuộc tính chất vụ việc)
Lưu ý: Để nhận ý kiến tư vấn qua email hoặc văn bản đóng dấu công ty: Khách hàng thanh toán chuyển khoản lần 1 (50%) khi yêu cầu dịch vụ, lần 2 (50%) trước khi luật sư gửi văn bản tư vấn. Hãy liên hệ theo số đt 082 966 6868 (zalo) để được hướng dẫn.






    Contact Me on Zalo
    1900633725
    Yêu cầu dịch vụ

    Gọi điện cho luật sư
    Gọi cho luật sư

    Tư vấn văn bản
    Tư vấn văn bản

    Dịch vụ trọn gói
    Dịch vụ trọn gói