Công ty Luật Thái An được thành lập năm 2007, khi thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Với bề dầy hơn 13 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Tư vấn pháp luật và Giải quyết tranh chấp kinh doanh, đầu tư, dân sự, đất đai, hôn nhân và gia đình Luật Thái An xứng đáng là điểm tựa pháp lý của khách hàng. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ tư vấn về tự ý bỏ việc có bị sa thải ?.

Câu hỏi của khách hàng: Tự ý bỏ việc có bị sa thải ?

Chào luật sư. Tôi tên là Minh, 43 tuổi, hiện đang cư trú tại Hà Nội. Tôi có một thắc mắc về vấn đề tự ý bỏ việc có bị sa thải ? như sau mong được luật sư giải đáp giúp cho:

Tôi vào làm việc tại Công ty X theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ năm 2010. Tháng 6/2017, công ty X cử tôi đi học nghề 6 tháng ở Nhật Bản, với cam kết làm việc ít nhất cho doanh nghiệp 3 năm sau khi học xong.

Ngày 15/11/2018, tôi xin phép nghỉ 6 ngày (1 tuần làm việc) để về quê chăm sóc mẹ đang bị ốm, nhưng giám đốc công ty X không đồng ý vì lí do doanh nghiệp đang gấp rút hoàn thành hợp đồng để giao nộp sản phẩm cho đối tác. Tuy nhiên, do mẹ ốm nặng nên tôi đã tự ý nghỉ việc 6 ngày. Ngày 20/12/2018, công ty đã họp xử lý kỉ luật vắng mặt tôi và ra quyết định sa thải tôi.

Luật Thái An trả lời câu hỏi về tự ý bỏ việc có bị sa thải ?

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi. Chúng tôi xin trả lời như dưới đây:

Cơ sở pháp lý điều chỉnh để trả lời câu hỏi: Tự ý bỏ việc có bị sa thải ?

Cơ sở pháp lý điều chỉnh là các văn bản pháp luật sau đây:

  • Bộ luật lao động 10/2012/QH13
  • Nghị định 05/2015/NĐ-CP

Tự ý bỏ việc có thể là một căn cứ để sa thải

Tại khoản 4, Điều 125 Bộ Luật lao động có quy định về việc áp dụng hình thức xử lý kỉ luật sa thải đối với người lao động tự ý nghỉ việc như sau:

“4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Tự ý bỏ việc có thể là một căn cứ để sa thải nhưng có những ngoại lệ

Điều 125 Bộ Luật lao động cũng quy định:

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Trong trường hợp này, bạn đã tự ý nghỉ 6 ngày làm việc liên tục, nhưng có lý do chính đáng là mẹ đang bị bệnh nặng. Vậy, dựa theo quy định trên, để chứng minh mình nghỉ việc là hợp pháp thì bạn cần phải đưa ra được giấy xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh nơi mẹ bạn nằm về việc mẹ anh mắc bệnh nặng. Đây là cơ sở để bạn chứng minh được tính hợp pháp cho hành vi tự ý nghỉ việc của bản thân.

Sa thải khi người lao động tự ý bỏ việc có lý do chính đáng có là vi phạm pháp luật không ?

Như đã trình bày ở phần (a), việc bạn tự ý nghỉ việc do mẹ của anh bị bệnh nặng, và bạn có được chứng nhận theo. Cho nên, theo Khoản 4, Điều 125 Bộ Luật Lao Động 2019 thì việc bạn tự ý nghỉ việc trong 6 ngày là có lí do chính đáng. Nên công ty X không thể áp dụng hình thức xử lí kỉ luật sa thải đối với bạn. Nên hành vi công sa thải bạn của công ty X là không đúng theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, trong trường hợp bạn không thể chứng minh được hành vi tự ý nghỉ việc của mình có lý do chính đáng (không có xác nhận của cơ sở khám chữ bệnh nơi mẹ anh nằm) thì hành vi của công ty X sẽ phù hợp với quy định của pháp luật.

Hậu quả pháp lý của việc sa thải khi người lao động tự ý bỏ việc có lý do chính đáng – sa thải không hợp pháp

Với trường hợp hành vi sa thải bạn của công ty X là trái pháp luật, thì hành vi đó được coi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của người sử dụng lao động. Cho nên, theo Điều 41 của Luật lao động 2019 về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:

“Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.”

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.”

Khắc phục hậu quả của quyết định sa thải trái pháp luật khi người lao động tự ý bỏ việc với lý do chính đáng

Như vậy, bạn có thể được hưởng những quyền lợi theo các trường hợp sau:

Trường hợp bạn muốn trở lại làm việc ở công ty:

Trường hợp bạn mong muốn trở lại làm việc tại công ty thì công ty sẽ buộc phải nhận bạn quay trở lại làm việc theo đúng hợp đồng đã giao kết. Bên cạnh đó, công ty X còn phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bạn không được làm việc và phải trả thêm cho anh một khoản tiền ít nhất bằng hai tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Nếu vị trí, công việc của bạn theo hợp đồng đã không còn thì bạn có thể thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động mà hai bên đã kí.

Trường hợp bạn không muốn trở lại làm việc ở công ty:

Trường hợp bạn không muốn trở lại làm việc ở công ty thì dựa theo khoản 2 của Điều 41: ngoài các khoản tiền theo quy định tại khoản 1 (tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động) thì công ty X phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

Điều 46. Trợ cấp thôi việc

Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

Trường hợp công ty X không muốn nhận bạn làm việc trở lại:

Trường hợp công ty X không muốn nhận lại bạn và có sự đồng ý của bạn thì ngoài khoản tiền công ty X phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46, thì hai bên sẽ thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho cho bạn với số tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi về tự ý bỏ việc. Nếu bạn cần được tư vấn chi tiết hơn và được giải đáp các thắc mắc trong từng trường hợp cụ thể, hãy gọi Tổng đài tư vấn lao động của Luật Thái An – luật sư sẽ giải thích cặn kẽ những gì chưa thể hiện được hết trong bài viết này.

Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật lao động và giải quyết tranh chấp lao động của Luật Thái An

Sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn luật lao động là rất khôn ngoan vì bạn sẽ hiểu rõ hơn về quyền và lợi ích hợp pháp của mình, từ đó biết cách xử lý đúng đắn trong các mối quan hệ tại nơi làm việc, với người sử dụng lao động. Để có thêm thông tin, hãy đọc bài viết Tư vấn luật lao động của chúng tôi.

Trường hợp bạn có những khúc mắc, thậm chí là tranh chấp liên quan tới lao động như chấm dứt hợp đồng lao động, khiếu nại, tố cáo, kiện tụng người sử dụng lao động thì luật sư sẽ giúp bạn xử lý các trường hợp đó một cách chuyên nghiệp và có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Bạn có thể tham khảo bài viết Khởi kiện vụ án tranh chấp lao động của chúng tôi.

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ 

1900633725