Làm sao để tránh bị trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính?
Khi khởi kiện vụ án hành chính, cá nhân, cơ quan, tổ chức luôn mong muốn đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào Tòa án cũng thụ lý đơn khởi kiện bởi pháp luật quy định có những trường hợp người khởi kiện sẽ bị trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không đáp ứng các điều kiện tố tụng.
Vì vậy, để việc nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính cho Tòa án được thụ lý suôn sẻ và nhanh chóng, hãy cùng Luật Thái An tìm hiểu những quy định pháp luật hành chính đến trả lại đơn khởi kiện để tránh và giảm thiểu nguy cơ bị trả lại đơn khi tham gia tố tụng hành chính.
1. Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
Theo điểm d khoản 3 Điều 121 Luật Tố tụng hành chính 2015, một trong những quyết định mà thẩm phán phụ trách có thể đưa ra sau khi xem xét đơn khởi kiện vụ án hành chính là quyết định trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện do xét thấy thuộc các trường hợp trả lại đơn khởi kiện quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015.
Theo đó, khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định các trường hợp thẩm phán trả lại đơn khởi kiện như sau:
a. Trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không có quyền khởi kiện
Quyền khởi kiện vụ án được quy định tại Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 như sau:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.
- Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại đó.
Như vậy, người khởi kiện bị trả lại đơn khởi kiện khi không đáp ứng quy định điều kiện về quyền khởi kiện tại Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 nêu trên. Cụ thể, người khởi kiện có thể rơi vào một số trường hợp như sau:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc khi đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng chưa hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Xem thêm: Quy trình khiếu nại và giải quyết khiếu nại
- Cá nhân có quyền khởi kiện vụ án về danh sách cử tri trong trường hợp đã khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật.
b. Trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ
Năng lực hành vi tố tụng hành chính là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ trong tố tụng hành chính hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng hành chính.
Theo quy định tại Điều 54 Luật Tố tụng hành chính 2015, người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác; đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì năng lực hành vi tố tụng hành chính của họ được xác định theo quyết định của Tòa án.
Điều này cũng quy định người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và cơ quan, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng hành chính thông qua người đại diện theo pháp luật.
Như vậy, nếu người khởi kiện chưa đạt độ tuổi theo luật định hoặc là người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện pháp luật thì sẽ bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện do những người này được xác định là không có năng lực hành vi tố tụng hành chính đầy đủ.
c. Trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện khởi kiện pháp luật quy định
Điều kiện khởi kiện là những điều kiện mà người khởi kiện bắt buộc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính tại thời điểm khởi kiện vụ án hành chính như điều kiện về đối tượng khởi kiện, chủ thể khởi kiện, quyền khởi kiện, thủ tục khởi kiện, đơn khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, … Khi người khởi kiện thiếu những điều kiện khởi kiện pháp luật quy định như đã nêu trên thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện đã nộp đến Tòa án.
Xem thêm: Khởi kiện vụ án hành chính
d. Trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Một vụ việc hành chính khi đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì vụ việc đó đã được giải quyết xong và không cần thiết phải xem xét lại. Điều này nhằm tránh lãnh phí thời gian, nhân lực xét xử của Tòa án, đảm bảo sự thống nhất, ổn định của hệ thống pháp luật, tránh tình trạng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị xem xét lại một cách tùy tiện và giúp Tòa án tập trung giải quyết các vụ việc mới.
Do đó, khi cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện lại một vụ việc hành chính đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.
đ. Trả lại đơn khởi kiện nếu sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015 đã quy định rõ ràng các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
- + Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
- + Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
- + Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
- Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước.
- Khiếu kiện danh sách cử tri.
Việc Tòa án không chấp nhận thụ lý, giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như quy định trên của pháp luật giúp cho Tòa án tập trung giải quyết các vụ án trong phạm vi trách nhiệm của Tòa án, không chồng chéo thẩm quyền và không vi phạm quy định tố tụng. Vì vậy, khi xét thấy vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện để tránh mất thời gian của cả đôi bên.

e. Trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục giải quyết khiếu nại
Khi người khởi kiện vừa khởi kiện tại Tòa án vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, Tòa án sẽ yêu cầu người khởi kiện phải lựa chọn một trong hai thủ tục giải quyết trên. Theo đó, khoản 1 Điều 33 Luật Tố tụng hành chính quy định người khởi kiện phải có văn bản thông báo lựa chọn cơ quan giải quyết cho Tòa án và theo điểm b, nếu người khởi kiện lựa chọn người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho người khởi kiện.
Tương tự, trường hợp nhiều người vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và tất cả những người này đều lựa chọn giải quyết vụ việc theo thủ tục khiếu nại Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho những người khởi kiện đó.
Lưu ý rằng trường hợp người khởi kiện không lựa chọn cơ quan giải quyết thì Tòa án cũng trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.
f. Trả lại đơn khởi kiện nếu dơn khởi kiện không có đủ nội dung
Theo khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính 2015, đơn khởi kiện phải có đủ các nội dung chính được quy định như sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Tòa án được yêu cầu giải quyết vụ án hành chính;
- Tên, địa chỉ; số điện thoại, số fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Nội dung quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, nội dung giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri hoặc tóm tắt diễn biến của hành vi hành chính;
- Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có);
- Yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết;
- Cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Theo Điều 122 Luật Tố tụng hành chính, nếu đơn khởi kiện bị thiếu các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính 2015, Thẩm phán được phân công xem xét đơn khởi kiện đã thông báo bằng văn bản và nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung mà người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày người khởi kiện nhận được thông báo của Tòa án thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.
g. Trả lại đơn khởi kiện nếu người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí
Khoản 1 Điều 125 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định nếu xét thấy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí và người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí.
Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này mà người khởi kiện không xuất trình biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có lý do chính đáng, Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện.
Căn cứ khoản 3 Điều 125 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện lưu ý trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì giải quyết như sau:
- Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án;
- Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện chứng minh được là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên họ nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án không đúng hạn thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu;
- Trường hợp sau khi Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện mới nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp lại đơn khởi kiện.
Ngoài đơn khởi kiện, thẩm phán trả lại tài liệu và chứng cứ kèm theo đơn và văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Văn bản trả lại đơn khởi kiện được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao lại và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
Có thể thấy có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc đơn khởi kiện của người khởi kiện bị Tòa án trả lại, trong đó đa số là những nguyên nhân chủ quan đến từ người khởi kiện, còn lại là nguyên nhân khách quan mà người khởi kiện chưa đủ khả năng để nhận biết.
Do đó, việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý là rất cần thiết, vì vụ việc của người khởi kiện trước khi được khởi kiện sẽ được rà soát và kiểm soát các nguyên nhân trả lại đơn khởi kiện bởi những người có chuyên môn pháp lý, có khả năng nhận biết rủi ro và định hướng giải pháp pháp lý, từ đó tránh sơ suất dẫn đến các tình trạng gây bất lợi cho người khởi kiện.
2. Khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
Việc khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính và giải quyết khiếu nại, kiến nghị đó được quy định tại Điều 124 Luật Tố tụng hành chính, cụ thể như sau:
a. Khiếu nại, kiến nghị với Thẩm phán được phân công xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơ n khởi kiện.
Tại phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và người khởi kiện có khiếu nại, Thẩm phán được phân công xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị phải ra một trong các quyết định sau đây:
- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp;
- Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
b. Khiếu nại, kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
- Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
- Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Lưu ý: Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp là quyết định cuối cùng.
3. Sử dụng dịch vụ pháp lý tư vấn khởi kiện hành chính để hạn chế tình trạng bị trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính
Khởi kiện vụ án hành chính là một cách thức để cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan đó nhằm đòi lại công bằng, quyền lợi cho mình khi cảm thấy quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm.
Do đó, người khởi kiện luôn mong muốn đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án. Nhưng thực tế, có rất nhiều lý do phát sinh khiến Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án hành chính, phần lớn là do người khởi kiện không tuân thủ các quy định tố tụng hành chính khi nộp đơn và không có hiểu biết pháp lý để kiểm soát các nguyên nhân có thể bị trả lại đơn khởi kiện.
Luật sư là người được đào tạo và có chuyên môn, kiến thức pháp luật, có kinh nghiệm và kĩ năng thực tế trong các lĩnh vực pháp luật nói chung và tố tụng hành chính nói riêng, do đó có thể hạn chế rủi ro bị trả lại đơn khởi kiện.
Đội ngũ luật sư của Luật Thái An tự tin có đủ khả năng về chuyên môn, trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu hợp pháp của khách hàng khi tham gia khởi kiện vụ án hành chính. Khi tư vấn một vụ án khởi kiện hành chính, Luật Thái An luôn mong muốn giúp khách hàng hiểu rõ ràng và đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong vụ án và khi tham gia tố tụng theo quy định pháp luật. Tiếp đó, luật sư hỗ trợ khách hàng thực hiện các công việc như:
- Rà soát điều kiện khởi kiện, soạn đơn khởi kiện, theo sát và đảm bảo khách hàng thực hiện đúng các thủ tục tố tụng để việc khởi kiện được thực hiện suôn sẻ ngay từ đầu, tránh và giảm rủi ro bị trả lại đơn khởi kiện;
- Thu thập và phân tích tài liệu, thông tin;
- Đánh giá và đưa ý kiến tư vấn phương án giải quyết chuyên sâu;
- Đại diện đàm phán và thương lượng;
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng trong vụ án hành chính, …
Công ty Luật Thái An luôn tận tâm, ưu tiên quyền lợi ích của khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực để trở thành chỗ dựa pháp lý đáng tin cậy, xứng đáng với sự tín nhiệm của khách hàng và xã hội trong từng vụ việc và trong suốt thời gian hoạt động hành nghề.
- Vụ án ly hôn đơn phương giành quyền nuôi con - 04/06/2024
- LY HÔN VỚI CHỒNG ĐANG ĐI TÙ: THÀNH CÔNG BẤT CHẤP MỌI KHÓ KHĂN! - 04/06/2024
- Luật sư giúp khách hàng trong tranh chấp với Thẩm mỹ viện - 25/01/2024
