Căn cứ vào nhiều yếu tố mà pháp luật quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Có giảm nhẹ thì đương nhiên sẽ có tình tiết tăng nặng. Để áp dụng tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội, tòa án sẽ căn cứ vào một trong các trường hợp được quy định tại Điều 52 BLHS 2015. Cụ thể sẽ được Công ty Luật Thái An chia sẻ kinh nghiệm trong bài viết dưới đây.

1. Cơ sở pháp lý quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Cơ sở pháp lý quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.

2. Tội phạm hình sự là gì?

Căn cứ và khoản 1 Điều 8 Bộ Luật Hình sự 2015, tội phạm được định nghĩa như sau:

“Tội phạm là hành vi nguy him cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý… xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Có thể thấy, tội phạm là hiện tượng đặc biệt trong xã hội, có tính nguy hiểm cho xã hội. Chính vì vậy mà dù là thời kỳ nào thì Nhà nước ta cũng đều có nhiều chính sách phòng chống tội phạm với nhiều hình phạt nghiêm khắc.

===>>> Xem thêm:  Thế nào là tội phạm hình sự ?

3. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là gì?

Có thể hiểu trách nhiệm hình sự là “Trách nhiệm hình sự người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình”.

Hiện nay, để tăng tính nghiêm khắc, hiệu quả của trách nhiệm hình sự thì Bộ Luật Hình sự đã quy định ngoài cá nhân thì pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, khái niệm trách nhiệm hình sự đã được mở rộng về chủ thể. Điều này là hoàn toàn hợp lý.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là những tình tiết quy định trong Bộ Luật Hình sự thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cao hơn so với mức bình thường. Theo đó, tội phạm thuộc vào trường hợp có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ Luật Hình sự thì tội phạm đó sẽ bị áp dụng khung hình phạt nặng hơn khung hình phạt cơ bản.

===>>> Xem thêm: Quyết định hình phạt trong trường hợp cụ thể.

4. Quy định chung về các tình tiết tăng nặng đối với tội phạm hình sự

Điều 52 Bộ Luật Hình sự đã quy định 15 tình tiết quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vậy căn cứ vào đâu để pháp luật quy định người phạm tội bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự? Các nhà làm luật đã căn cứ vào hai yêu tố là tình tiết ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết phản ảnh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội để xác định được tình tiết sẽ được coi là tình tiết tăng nặng.

Trước khi đi vào phần phân tích các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Chúng tôi xin đưa ra một vài lưu ý khi áp dụng tình tiết tăng nặng.

  • Một là, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ có thể là những tình tiết được quy định tại Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015. Tòa án không được phép sử dụng các tình tiết nào khác để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Sở dĩ, pháp luật bó hẹp phạm vi xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm bởi việc tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm khắc hơn so với bình thường. Nên việc áp dụng các tình tiết tăng nặng không thể bừa bãi, tùy chọn. Việc này sẽ đảm bảo các phán quyết được đưa ra chính xác, đúng với mức độ vi phạm của người phạm tội.

  • Với những tội phạm cụ thể, nếu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đã được pháp luật quy định là dấu hiệu định tội, định khung hình phạt thì không áp dụng các quy định tại Điều 52 để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.

Dưới đây là phần phân tích cụ thể của chúng tôi về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

5. Các tình tiết tăng nặng đối với tội phạm hình sự là gì?

a. Phạm tội có tổ chức là tình tiết tăng nặng

Có tổ chức được xếp vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đầu tiên trong Điều 52. Có thể hiểu tình tiết tăng nặng là trường hợp đồng phạm có sự kết cấu chặt chẽ giữa những chủ thể cùng thực hiện tội phạm. Tính có tổ chức sẽ cho phép những người tham gia có khả năng cao để phạm tội liên tục, nhiều lần, gây ra những hậu quả lớn, rất lớn và đặc biệt lớn cho xã hội. Chính vì vậy, đây được coi là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Có tổ chức, tức phải có ít nhất từ 2 người trở lên và những người này phải có sự câu kết chặt chẽ, phân công nhiệm vụ rõ ràng. Có thể là người cùng tổ chức, cùng thực hành, cùng bỏ trốn. Mức độ câu kết càng chặt chẽ, sự phân công nhiệm vụ càng rõ ràng chi tiết thì mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội càng cao sẽ thường thấy ở các tội phạm xuyên quốc gia như tội về buôn bán người, tội buôn bán trái phép động vật quý hiếm..

Tội phạm có tổ chức có thể là chuyên về một tội phạm cũng có thể để thực hiện nhiều tội phạm khác nhau. Cùng nhau thực hiện tộ phạm một hay nhiều lần, lên kế hoạch sẵn hay bộc phát, thực hiện tội phạm thành công hay không thành công.

Mức độ tăng nặng phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như quy mô của tội phạm mà những người đó thực hiện, mức độ câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm và vai trò cụ thể của từng người.

b. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết tăng nặng

Theo điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015 thì tính chất chuyên nghiệp được xét vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đây là trường hợp liên tiếp phạm tội (từ năm lần trở lên) về cùng một tội phạm và người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Chuyên nghiệp nghĩa là người phạm tội xem việc phạm tội là một nghề để kiếm sống, tạo ra thu nhập, tất nhiên là không phụ thuộc vào việc thu nhập đó cao hay thấp, có đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hay không, miễn nó được xem là một nghề. Ví dụ: A là người thất nghiệp nên thường xuyên đi lấy trộm đồ của người dân bất kể đồ lặt vặt đến đồ có giá trị lớn. Tình trạng phạm tội kiểu này rất phổ biến hiện nay.

Tính chuyên nghiệp còn được thể hiện ở số lần phạm tội, ít nhất là 05 lần trở lên về cùng mộ tội phạm.

Trường hợp phạm tội này thể hiện tính nguy hiểm cao hơn so với những trường hợp phạm tội thông thường, vì vậy được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Số lần được tính sẽ là không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích.

c. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội là tình tiết tăng nặng

Tại điểm c khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự đã quy định đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cụ thể người phạm tội đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như là phương tiện để thực hiện tội phạm.

Trong phạm vi chức vụ, quyền hạn của mình, người phạm tội có được uy tín, sự ảnh hưởng đối với người khác, vì vậy họ đã lợi dụng điều này để thực hiện tội phạm, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân gây ảnh hưởng đến uy tín của người cán bộ, uy tín của Nhà nước.

Chính việc có chức vụ, quyền hạn sẽ làm cho việc thực hiện tội phạm trở nên dễ dàng hơn và có chức vụ, quyền hạn nên việc phát hiện cũng sẽ khó hơn và thiệt hại gây ra thương cũng lớn hơn. Thông thường tình tiết tăng nặng thường áp dụng đối với các tội phạm kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước liên quan đến tham ô, tham nhũng, hối lộ.

d. Phạm tội có tính chất côn đồ là tình tiết tăng nặng

Điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định tính chất côn đồ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Người phạm tội bị áp dụng tình tiết tăng nặng này khi phạm tội mà hành vi và các tình tiết khách quan khác thể hiện sự hung hãn, coi thường người khác, coi thường pháp luật của người phạm tội.

Cần lưu ý là để được xem là tính chất côn đồ thì cần dựa vào hành vi của người phạm tội chứ không căn cứ vào tính cách, thái độ thường ngày của tội phạm để kết luận họ có tính côn đồ như mọi người thường quan niệm. Rất nhiều người có tri thức, tính cách điềm đạm, tử tế nhưng lại thực hiện hành vi vô cùng dã man, quyết liệt, côn đồ.

Tính chất côn đồ làm cho mức độ nguy hiểm của hành vi bị đẩy lên cao hơn so với mức bình thường nên tính thiệt hại cũng nhiều hơn. Vì vậy, việc quy định tính côn đồ là tình tiết tăng nặng khi người đó phạm tội là điều cần thiết.

===>>> Xem thêm: Các hình phạt đối với người phạm tội hình sự.

đ. Phạm tội vì động cơ đê hèn là tình tiết tăng nặng

Để bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội vì động cơ đê hèn thì phạm tội đã bị thúc đẩy bởi động cơ đê tiện, thấp hèn. Hành vi phạm tội trong trường hợp này thường là những biểu hiện của sự bội bạc, phản trắc, hèn nhát, ích kỉ… Điển hình là các trường hợp phạm tội đối với người mà mình mang ơn, phạm tội để trốn tránh trách nhiệm mà mình gây ra,…

Đây là tình tiết phản ánh mức độ lỗi của người phạm tội và mức độ lỗi trong trường hợp này nghiêm trọng hơn bình thường, do đó, tình tiết này được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: A được gia đình B nhận nuôi, khi B chết sợ không được chia tài sản nên đã lấy hết số tiền của B để lại và bỏ trốn.

===>>> Xem thêm: Quy định về xóa án tích như thế nào?

e. Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng là tình tiết tăng nặng

Đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015. Được áp dụng khi người phạm tội đã thể hiện ý chí quyết tâm cao khi thực hiện tội phạm thông qua việc họ tìm mọi cách cố gắng khắc phục trở ngại, khó khăn nhằm thực hiện tội phạm đến cùng. Vì vậy, mức độ lỗi của người phạm tội ở đây nghiêm trọng hơn so với những trường hợp thông thường khác. Việc pháp luật quy định đây là tình tiết tăng nặng là hoàn toàn hợp lý.
Vậy hiểu thế nào là cố tình thực hiện tội phạm đến cùng? Xét về mặt ý chí và lý trí người đó mong muốn đạt được kết quả, mục đích được đề ra. Do vậy họ sẽ tìm đủ mọi cách để hoàn thành mục tiêu đó. Tuy nhiên, “đến cùng” sẽ không được hiểu là trên thực tế bắt buộc họ phải đạt được mục đích.
Nếu mục đích của họ không đạt được như mong muốn mà có căn cứ chứng minh được người phạm tội rất nỗ lực để thực hiện mục đích phạm tội thì vẫn sẽ áp dụng tình tiết tăng nặng này.
Có những tội phạm tuy đã đạt được mục đích nhưng vẫn không thể coi là đến cùng khi ở khoảng thời gian khác nhau.
Ví dụ như A đã nhiều lần định lấy tiền ủa B nhưng sợ bị phát hiện nên chưa dám trộm. Một hôm A quyết tâm đi trộm và tiêu số tiền ngay sau đó. Trường hợp này sẽ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng cố tình phạm tội đến cùng.
tình tiết tăng nặng
Người phạm tội chỉ bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau – Nguồn ảnh minh họa: Internet.

f. Phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng

Đây là trường hợp phạm tội mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét xử. Tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015. Về mặt nội dung và hình thức tình tiết tăng nặng này đã thay thế tình tiết “phạm tội nhiều lần trong Bộ Luật Hình sự 1999.

Sự thay đổi này là hoàn toàn hợp lý. Bởi nếu quy định “nhiều lần” thì không thể nào xác định rõ được là bao nhiêu lần phạm tội, cũng có thể là 2 lần, 3 lần, hay 6 lần phạm tội. Quy định tình tiết tăng nặng một cách cụ thể là “phạm tội 02 lần trở lên” trong Bộ Luật Hình sự 2015 đã khắc phục được hạn chế này.

Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào số lần phạm tội thì chưa đủ dấu hiệu để áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên. Người phạm tội được coi là phạm tội 02 lần trở lên khi có các đặc điểm như:

  • Người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau
  • Nếu tách từng hành vi phạm tội riêng rẽ thì mỗi hành vi ấy đều đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập
  • Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, v.v. và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án;
  • Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại.

Cần lưu ý: Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng của BLHS, có thể cùng một khoản hoặc ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật.

g. Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng

Đây là tình tiết tăng nặng khá phức tạp, theo Điều 53 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm có tính nguy hiểm cao hơn người phạm tội thuộc trường hợp phạm tội lần đầu vì họ đã bị kết án nhưng vẫn phạm tội lại trong thời gian chưa được xóa án tích về tội đã bị kết án. Cụ thể người phạm tội bị coi là tái phạm đòi hỏi các điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất:

Người phạm tội phải là người đã bị kết án và đang có án tích. Không phải tất cả những người đã bị kết án đều bị coi là có án tích. Đã bị kết án được xem là đã bị kết án khi người phạm tội đã bị tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án. Điều đó có nghĩa là người bị Tòa án xử phạt với bất cứ hình phạt chính nào (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ…).

Chưa được xóa án tích là trường hợp không thuộc các trường hợp đương nhiên được xóa án tích hoặc được xóa án tích theo quyết định của tòa án được quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ Luật Hình sự.
Còn trường hợp đã bị kết án nhưng không bị coi là có án tích được quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ Luật Hình sự và tại khoản 1 Điều 107 Bộ Luật Hình sự (đối với người bị kết án dưới 18 tuổi). Như vậy, người bị kết án mà không thuộc các trường hợp này mới bị coi là có án tích.

Điều kiện thứ hai:

Người đang có án tích đã phạm tội mới và tội phạm đó là tội phạm cố ý hoặc tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiệm trọng do vô ý.

Các trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ Luật Hình sự.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:

a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Theo đó, tái phạm nguy hiểm là trưởng hợp đặc biệt của tái phạm, có tính nguy hiểm cao hơn trường hợp tái phạm. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 53, tái phạm nguy hiểm gồm hai trường hợp: Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện tội phạm cố ý.

===>>> Xem thêm: Thế nào là tái phạm, tái phạm nguy hiểm?

g. Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên là tình tiết tăng nặng

Theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015 khi xâm hại tới các đối tượng được pháp luật đặc biệt bảo vệ cũng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đó là các đối tượng là: người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai hoặc người đủ 70 tuổi trở lên. Sở dĩ pháp luật có quy định như vậy là bởi họ là những người có khả năng tự vệ hạn chế hoặc không có khả năng tự vệ.

Không chỉ vi phạm nghiêm trọng pháp luật mà nó còn vi phạm chính sách bảo vệ bà mẹ, trẻ em cũng như vi phạm đạo đức xã hội và nguyên tắc nhân đạo nói chung. Do đó, trường hợp phạm tội này có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp phạm tội bình thường và được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

h. Tình tiết tăng nặng: Phạm tội đối với người ở trong tình trạng không thể tự vệ được, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác

Không chỉ trẻ em, phụ nữ có thai, người đủ 70 tuổi được xếp vào nhóm đối tượng đặc biệt. Tại điểm k khoản 1 Điều 52 BLHS quy định nếu đối tượng xâm hại là người khuyết tật nặng hoặc người khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức. Theo đó, trường hợp phạm tội có đối tượng bị xâm hại tương đối đặc biệt và do vậy mà có tính nguy hiểm cao hơn so với trường hợp phạm tội bình thường.

Để tìm hiểu sâu hơn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này, chúng tôi sẽ giải thích một số thuật ngữ như sau:

  • Người ở trong tình trạng không thể tự vệ được là người do thể chất hoặc tinh thần có sự bất thường nên không có khả năng chống đỡ, tự bảo vệ mình được như người bị bệnh nặng, người không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do mắc bệnh tâm thần..
  • Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện được một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày”.
  • Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày
  • Người bị hạn chế khả năng nhận thức là người do mắc bệnh nên không có khả năng nhận thức được đẩy đủ hành vi của mình;
  • Người lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác như tôn giáo, tín ngưỡng là người mà người phạm tội có thể chi phối và họ có thể lợi dụng sự chi phối này để phạm tội.

Các đối tượng kể trên không chỉ được pháp luật bảo vệ khi bị xâm hại mà kể cả khi họ có hành vi xâm phạm đến quyền lợi của người khác thì sẽ xếp vào trong trường hợp được hưởng các tình tiết giảm nhẹ. Đó là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. 

i. Tình tiết tăng nặng: Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội

Đây là trường hợp người phạm tội đã lợi dụng hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, phức tạp của xã hội để dễ dàng thực hiện tội phạm. Hoàn cảnh đặc biệt này xảy ra trong xã hội đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, khắc phục khó khăn, tuy vậy người phạm tội đã không giúp đỡ khắc phục, còn có hành vi làm tăng thêm những khó khăn đang có của xã hội.

Chính vì vậy, hành vi phạm tội có tình tiết này thể hiện tính chất nghiêm trọng cao hơn bình thường nên đã được quy định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: cắt xén từ quỹ tiền ủng hộ bà con vùng bão lũ, lừa đảo hô hào mọi người quyên góp tiền của cho người vô gia cư bị dịch bệnh…

k. Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội là tình tiết tăng nặng

Điểm m khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015 đã quy định thủ đoạn, tính chất nghiêm trọng hành vi phạm tội cũng có thể xếp vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đó là thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, hành vi tàn ác để phạm tội. Thủ đoạn tinh vi là thủ đoạn phạm tội kín đáo, phức tạp khó nhận biết. Thủ đoạn xảo quyệt là thủ đoạn phạm tội gắn với những mánh khóe, cách thức gian dối, thâm hiểm. Thủ đoạn tàn ác là thủ đoạn phạm tội có tính thẩm độc, tàn nhẫn, man rợ…

Vì người phạm tội có thủ đoạn phạm tội không bình thường làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên họ phải bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là điều hợp lý.

VÍ dụ: A giết B bằng cách dụ B đến nhà nhờ sửa ống nước và lừa B uống phải chất kịch độc và còn bị A đâm nhiều nhát vào người trước khi chết.

l. Dùng thủ đoạn hoặc phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiu người để phạm tội là tình tiết tăng nặng

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này được áp dụng khi người phạm tội đã sử dụng cách thức hoặc phương tiện, công cụ phạm tội có khả năng gây thiệt hại cho nhiều người, như đốt nhà trong đó có nhiều người, ném lựu đạn hoặc dùng súng bắn vào đám đông,…

Tình tiết này chỉ đòi hỏi thủ đoạn, công cụ, phương tiện mà người phạm tội sử dụng, đặt trong điều kiện nhất định có khả năng gây nguy hại cho nhiều người mà không đòi hỏi khả năng đó phải thực sự xảy ra. Có nghĩa pháp luật hình sự ưu tiên xét về hành vi chứ không xét về hậu quả. Nếu chưa gây ra hậu quả, đạt được mục đích của người phạm tội thì người đó vẫn bị áp dụng tình tiết tăng nặng này.

Ví dụ: A muốn trả thù B nên đã cài bom vào xe khách do B là lái xe.

k. Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng

Tình tiết tăng nặng này được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015. Tình tiết tăng nặng này được hiểu là người phạm tội đã có hành vi dụ dỗ, kích động, thúc đẩy người khác là người chưa đủ 18 tuổi thực hiện tội phạm.

Điểm lưu ý là người phạm tội nếu bị áp dụng tình tiết tăng nặng phải đòi hỏi người xúi giục ở đây hoàn toàn nhận thức được người đang bị mình xúi giục phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi. Đồng nghĩa với việc nếu họ không biết người bị mình xúi giục chưa đủ 18 tuổi thì họ sẽ không chịu tình tiết tăng nặng này. Vậy căn cứ nào để xác định một người biết hay không biết người bị xúi giục là chưa đủ 18 tuổi. Đây là vấn đề còn gặp nhiều khó khăn.

Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự khi áp dụng tình tiết này phụ thuộc vào số lượng người bị xúi giục, độ tuổi của người bị xúi giục và tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm mà người dưới 18 tuổi thực hiện.

Ví dụ: Chú ruột xúi giục cháu 17 tuổi vận chuyển ma túy.

l. Tình tiết tăng nặng: Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm

Điểm p khoản 2 Điều 52 Bộ Luật Hình sự 2015 đã quy định đây là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đây là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội đã có những hành vi gian dối, quỷ quyệt hoặc hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực đối với người khác nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm. Mức độ gian dối, hung hãn cao, thì mức độ trách nhiệm hình sự càng nặng.

===>>> Xem thêm: Các tình tiết giảm nhẹ đối với tội phạm hình sự.

 

Trên đây là phần tư vấn của Công ty Luật Thái An về các tình tiết tăng nặng với người phạm tội hình sự. Xin lưu ý là sau thời điểm chúng tôi viết bài này, luật pháp đã có thể thay đổi các quy định liên quan. Hãy gọi tới Tổng đài tư vấn Luật Hình Sự. Bạn sẽ được tư vấn trực tiếp và chính xác nhất về các vấn đề liên quan tới tội phạm hình sự.

5. Dịch vụ luật sư bào chữa hình sự của Luật Thái An

Hiến pháp nước ta và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đều quy định về quyền được thuê luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa”. Sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa, người phạm tội sẽ được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

===>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 

Bề dày 14+ năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, đầu tư, dân sự, hình sự, đất đai, lao động, hôn nhân và gia đình... Công ty Luật Thái An cam kết cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng.

  • Để được Giải đáp nhanh - Hãy gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 633 725
  • Để được Tư vấn qua email – Hãy điền Form gửi yêu cầu (500.000 – 800.000đ /email) -
  • Để được Tư vấn bằng văn bản đóng dấu công ty – Hãy điền Form gửi yêu cầu (từ 1.000.000đ /văn bản)
  • Để được Cung cấp dịch vụ pháp lý trọn gói – Hãy điền Form gửi yêu cầu (Phí dịch vụ tuỳ thuộc tính chất vụ việc)
Lưu ý: Để nhận ý kiến tư vấn qua email hoặc văn bản đóng dấu công ty: Khách hàng thanh toán chuyển khoản lần 1 (50%) khi yêu cầu dịch vụ, lần 2 (50%) trước khi luật sư gửi văn bản tư vấn. Hãy liên hệ theo số đt 082 966 6868 (zalo) để được hướng dẫn.






    Contact Me on Zalo
    1900633725
    Yêu cầu dịch vụ

    Gọi điện cho luật sư
    Gọi cho luật sư

    Tư vấn văn bản
    Tư vấn văn bản

    Dịch vụ trọn gói
    Dịch vụ trọn gói