Trong đời sống có những trường hợp người phụ nữ kết hôn với người đàn ông mà gia đình chồng rất giàu có. Nhà chồng vì nhiều lý do muốn hạn chế quyền của người vợ đối với tài sản, nên tìm mọi cách để thực hiện sự hạn chế đó. Tuy nhiên, các hành vi này đều phải được điều chỉnh bởi pháp luật và phải tuân thủ các quy định của pháp luật.

Trong bài viết dưới đây, chúng tôi tư vấn về và trả lời các câu hỏi của khách hàng về các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng, ví dụ: Kết hôn mà phải cam kết không được hưởng tài sản của nhà chồng ?

 

Câu hỏi của khách hàng: 

“Chào luật sư. Tôi tên là Loan, 28 tuổi, hiện đang cư trú tại Hòa Bình. Tôi có một thắc mắc sau mong được luật sư giải đáp giúp cho:

Tôi với người yêu đã định ngày kết hôn vào 2 tháng nữa. Gia đình anh ấy là một gia đình giàu có, gia giáo. Khi dẫn tôi về, gia đình bố mẹ anh ấy không đồng ý. Sau khi anh ấy thuyết phục, gia đình anh ấy đồng ý cho chúng tôi kết hôn với điều kiện tôi phải ký vào bản cam kết thỏa thuận rằng nếu chúng tôi ly hôn thì tôi sẽ không được nhận bất cứ tài sản nào từ nhà chồng. Anh người yêu tôi cũng cho rằng chúng tôi yêu nhau thật lòng, không vì tài sản nên khuyên tôi cứ kí vào để được tổ chức đám cưới.

Vậy tôi muốn hỏi luật sư rằng nếu tôi kí vào bản thỏa thuận đó thì bản thỏa thuận đó có vi phạm chế độ tài sản của vợ chồng không? Có được pháp luật chấp nhận hay không?”

Luật Thái An trả lời câu hỏi: 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi. Chúng tôi xin trả lời như dưới đây:

1. Cơ sở pháp lý:

Cơ sở pháp lý để trả lời câu hỏi trên là các văn bản pháp luật sau đây:

  • Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13
  • Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình
Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định 2 chế độ tài sản của vợ chồng, đó là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định.
Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định 2 chế độ tài sản của vợ chồng, đó là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định – Ảnh nguồn Internet

2. Quy định chung của pháp luật về chế độ tài sản vợ chồng:

a. Hai chế độ tài sản vợ chồng:

Theo điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng thì:

“Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.”

Theo điều 7 nghị định 126/2014/NĐ-CP thì:

“Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.”

b. Nguyên tắc chế độ tài sản vợ chồng:

Theo đó, có hai chế độ tài sản của vợ chồng, đó là chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.

Về cơ bản, việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
  • Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
  • Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.

3. Quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo thỏa thuận:

Theo điều 47 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng thì:

“Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.”

Theo đó, nếu như hai bên lựa chọn áp dụng chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận thì bản thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

Về nội dung cơ bản thì văn bản thỏa thuận chế độ tài sản vợ chồng phải có các nội dung cơ bản sau:

  • Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;
  • Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;
  • Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
  • Nội dung khác có liên quan.

Trong quá trình áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận, nhưng vấn đề vợ chồng chưa thỏa thuận rõ sẽ được áp dụng chế độ tài sản theo luật định. Bên cạnh đó, vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ sung thỏa thuận về chế độ tài sản.

===>>> Xem ngay: Thỏa thuận tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

4. Vậy kết hôn mà phải cam kết không được hưởng tài sản của nhà chồng thì có sao không ?

Trên cơ sở các thông tin bạn cung cấp, thì bản cam kết mà nhà chồng đưa ra có thể coi là bản thỏa thuận tài sản trước hôn nhân của hai vợ chồng bạn. Bản thỏa thuận này chỉ có hiệu lực pháp luật khi được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực.

Tuy nhiên, bạn có nhắc đến nội dung của bản thỏa thuận rằng nếu ly hôn, bạn không được nhận bất cứ tài sản nào từ nhà chồng nhưng lại không nhắc đến việc phân chia tài sản chung của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Cần lưu ý rằng, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của hai vợ chồng, trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc hai vợ chồng thỏa thuận là tài sản riêng. Khi đó, nếu bản thỏa thuận không nhắc đến chia tài sản chung của hai vợ chồng thì khi ly hôn, hai bạn vẫn tiến hành chia tài sản chung bình thường. Trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được, tài sản được chia theo quy định của pháp luật tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu các bên có yêu cầu. Cụ thể thế nào, bạn hãy xem phần giải thích dưới đây:

5. Quy định của pháp luật về chế độ tài sản theo luật định:

Theo điều 7 nghị định 126/2014/NĐ- CP thì:

“Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình.”

Theo điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận”

Chế độ tài sản theo luật định được áp dụng khi vợ chồng không chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận, tức là không có thỏa thuận tài sản trước hôn nhân. Khi áp dụng chế độ tài sản theo luật định, vợ chồng vẫn có quyền thỏa thuận về việc phân chia tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đối với chế độ tài sản theo luật định, nếu vợ chồng không thể tự thỏa thuận việc phân chia tài sản khi ly hôn thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Bên cạnh đó, việc chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn phải đảm bảo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

 

Để hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan tới câu hỏi: Kết hôn mà phải cam kết không được hưởng tài sản của nhà chồng ?, bạn cũng có thể xem video dưới đây của chúng tôi, sẽ rất bổ ích cho bạn.

Trên đây là phần tư vấn về vấn đề “Kết hôn mà phải cam kết không được hưởng tài sản của nhà chồng thì có sao không ?”. Hãy gọi Tổng đài tư vấn luật hôn nhân và gia đình của Luật Thái An – luật sư sẽ giải thích cặn kẽ những gì chưa thể hiện được hết trong bài viết này.

HÃY LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ


Tác giả bài viết:

Luật sư Lê Văn Thiên

Thành viên Liên đoàn Luật sư Việt Nam, thành viên Đoàn Luật sư Hà Nội

Cử nhân Đại học Luật Hà Nội (tháng 6/2000)

Thẻ Luật sư số 1395/LS cấp (tháng 8/2010)

Lĩnh vực hành nghề: Hôn nhân gia đình, Tố tụng, Dân sự

Contact Me on Zalo
1900633725
Yêu cầu dịch vụ