Đối với tội phạm, pháp luật hình sự Việt Nam có những chính sách trừng trị vô cùng nghiêm khắc. Bởi tội phạm là một loại đối tượng rất nguy hiểm, gây nguy hại lớn cho xã hội. Chính vì vậy, họ phải chịu các hình phạt thích đáng. Vậy những hình phạt đối với người phạm tội? Câu trả lời sẽ có trong bài viết dưới đây của Công ty Luật Thái An.

1. Cơ sở pháp lý quy định hình phạt đối với người phạm tội

Cơ sở pháp lý quy định các hình phạt đối với người phạm tội là Bộ Luật Hình sự 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.

2. Thế nào là hình phạt đối với người phạm tội?

Điều 30 BLHS 2015 đã quy định hình phạt đối với người phạm tội được hiểu như sau:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, li ích của người, pháp nhân thương mại đó.

Từ định nghĩa trên, có thể rút ra được những đặc điểm của hình phạt hình phạt đối với người phạm tội để nhận dạng đó là: hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, hình phạt được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng và hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội. Chúng tôi sẽ phân tích dưới đây.

===>>> Xem thêm: Thế nào là tội phạm hình sự?

3. Đặc điểm của hình phạt hình phạt đối với người phạm tội

a) Hình phạt đối với người phạm tội là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất

Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta, có nhiều biện pháp cưỡng chế như xử phạt hành chính, buộc bồi thường thiệt hại về tài sản, xử lý kỷ luật. So với các biện pháp cưỡng chế khác thì chỉ có hình phạt đối với người phạm tội là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Hình phạt đối với người phạm tội cũng được Nhà nước sử dụng như một công cụ hữu hiệu để trừng phạt, phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền lợi nhân dân, chế độ nhà nước và trật tự xã hội.

Tính nghiêm khắc của hình phạt đối với người phạm tội được thể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị và đặc biệt là quyền sống. Quyền sống là quyền cơ bản của con người. Ở một số nước trên thế giới đã bỏ hình phạt tử hình vì họ đã cho rằng đã xâm phạm quyến sống tự nhiên của một người. Còn ở Việt Nam, việc bỏ hay không án tử hình còn là một tranh cãi và hiện nay nó vẫn là hình phạt đối với người phạm tội nghiêm khắc nhất.

b) Hình phạt đối với người phạm tội được luật hình sự quy định và do tòa án áp dụng

Hình phạt đối với người phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Hình phạt đối với người phạm tội là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự đều khẳng định Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chỉ có Tòa án mới có quyền xét xử và quyết định hình phạt hình phạt đối với người phạm tội theo trình tự thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Theo đó Điều 102 Hiến pháp 2013 quy định:

1. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.

c) Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội

Theo như pháp luật hình sự quy định thì chủ thể của tội phạm là người và pháp nhân thương mại. Hình phạt chỉ áp dụng cho hai đối tượng này khi đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Như vậy, pháp luật Việt Nam không cho phép việc chấp hành hình phạt tù thay cho người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội cho dù là tự nguyện.

Quy định này vừa thể hiện trong Điều 26 về khái niệm hình phạt vừa thể hiện tính nguyên tắc cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 2 Bộ luật Hình sự): “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.

===>>> Xem thêm: Các căn cứ quyết định hình phạt.

4.Các hình phạt đối với người phạm tội hình sự

a) Hình phạt đối với người phạm tội là hình phạt chính 

Theo khoản 1 Điều 32 BLHS 2015 quy định có 7 hình phạt đối với người phạm tội là hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình. Cụ thể hình phạt đối với người phạm tội như sau: 

  • Hình phạt cảnh cáo

Điều 34 BLHS 2015 quy định hình phạt cảnh cáo như sau:

Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt.

Trong 7 hình phạt chính kể trên thì hình phạt cảnh cáo là hình phạt chính nhẹ nhất. Hình phạt cảnh cáo cũng được quy định là một hình phạt bởi thể hiện thái độ, sự lên án của nhà nước đối với hành vi mà người phạm tội đã thực hiện. Hình phạt cảnh cáo tuy không có khả năng gây thiệt hại vè vật chất, hạn chế thể chất người phạm tội nhưng tác động đến tinh thần, nhận thức, ý thức để đạt được mục đích cao nhất là giáo dục con người.

Hình phạt cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo Điều 51 BLHS nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Quy định này đã rạch ra ra giới giữa áp dụng hình phạt cảnh cáo và miễn hình phạt. Tuy nhiên, các căn cứ để phân định cũng như đê áp dụng trên thực tiễn còn nhiều trở ngại.

===>>> Xem thêm: Các tình tiết giảm nhẹ đối với tội phạm hình sự.

  • Hình phạt là phạt tiền

Phạt tiền là hình phạt buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định vào ngân sách nhà nước. Hình phạt phạt tiền tước đi lợi ích vật chất của người phạm tội, tác động đến tình trạng tài sản của họ và thông qua đó tác động đến ý thức, thái độ của người phạm tội. Hình phạt phạt tiền cũng có tính răn đe, giáo dục đối với người khác và qua đó có khả năng phòng ngừa chung.

Hình phạt phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:

  • Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng 

  • Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác 

  • Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

===>>> Xem thêm: Các loại tội phạm hình sự.

hình phạt
Hình phạt là chế tài xử lý nghiêm khắc đối với tội phạm hiện nay – Nguồn ảnh minh họa: Internet.
  • Hình phạt cải tạo không giam giữ

Theo Điều 36 BLHS 2015 quy định hình phạt này như sau:

Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, buộc người phạm tội phải cải tạo, giáo dục tại nơi làm việc, học tập, cư trú dưới sự giám sát của các cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập hoặc của chính quyền địa phương, nơi họ cư trú.

Trong hệ thống hình phạt, hình phạt cải tạo không giam giữ được coi là nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn nhưng nặng hơn phạt tiền và cảnh cáo. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng, có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng và thấy không cần thiết phải cách lý khỏi xã hội.

Như vậy, hai điều kiện cần của hình phạt cải tạo không giam giữ là căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi cho xã hội là “ít nghiêm trọng” và điều kiện đảm bảo hiệu quả của hình phạt là vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Nhà nước và pháp luật. Theo đó, để được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, người phạm tội phải có công việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng. Đây là điều kiện cần thiết để theo dõi, giám sát, có  thể bắt giữ ngay khi có tình tiết phạm tội tăng nặng hoặc phạm một tội mới.

Thời hạn của hình phạt cải tạo không giam giữ là từ 6 tháng đến 3 năm. Việc giám sát người phạm tội chấp hành hình phạt do cơ quan hoặc tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc được giao cho UBND xã nơi người đó cư trú.

Trong thời gian chấp hành hình phạt này, người phạm tội phải thực hiện một số nghĩa vụ theo Luật định. Nếu người chấp hành án đang thực hiện nghĩa vụ quân sự thì không khấu trừ thu nhập của họ.

  • Hình phạt trục xuất

Căn cứ vào Điều 37 BLHS 2015 quy định về hình phạt trục xuất như sau:

Trục xuất là buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

Như vậy, từ quy định của pháp luật có thể thấy, trục xuất là hình phạt buộc người nước ngoài bị kết án trong thời hạn nhất định phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trục xuất là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung tuy theo từng trường hợp cụ thể tòa án áp dụng.

Khi quyết định hình phạt đối với người nước ngoài, tòa căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của họ để quyết định trục xuất là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung.

===>>> Xem thêm: Các tình tiết tăng nặng đối với tội phạm hình sự.

  • Hình phạt tù có thời hạn

Điều 38 BLHS 2015 đã quy định về hình phạt tù có thời hạn như sau:

1.Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là 03 tháng và mức tối đa là 20 năm. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 01 ngày tù.

Theo Điều 38 BHLS chúng ta có thể hiểu tù có thời hạn là hình phạt chính, buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục, cải tạo họ. So với các hình phạt trước đó như hình phạt cảnh cáo, hình phạt phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ thì hình phạt tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc hơn cả. Hình phạt này sẽ hạn chế sự tự do, một số quyền nhất định của công dân.

Hình phạt tù có thời hạn có mức tối thiểu là ba tháng và mức tối đa là hai mươi năm khi phạm một tội, ba mươi năm trong trường hợp phạm nhiều tội.

Hình phạt tù có thời hạn không được áp dụng đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng. Người bị kết án tù có thời hạn chấp hành án tại trại tạm giam. Thời gian tạm giam, tạm giữ được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù.

  • Hình phạt tù chung thân

Điều 39 BLHS quy định hình phạt tù chung thân như sau:

Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Trong 7 hình phạt chính, hình phạt tù chung thân là hình phạt rất nghiêm khắc, chỉ nhẹ hơn hình phạt tử hình. Để có thể kết án người phạm tội chịu hình phạt án tù chung thân, người đó phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đế mức xử phạt hình phạt tử hình thì xử phạt tù chung thân. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tòa án phải dựa vào  các căn cứ quyết định hình phạt để lựa chọn một trong ba hình phạt: tử hình, tù chung thân, tù có thời hạn (ở mức cao) để áp dụng đối với người phạm tội.

Thông thường trong thực tiễn, hình phạt tù chung thân được áp dụng đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng mà nếu áp dụng hình phạt tù có thời hạn ở mức tối đa vẫn còn nhẹ nhưng nếu phạt tử hình thì chưa thật cần thiết.

Do tính chất nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân và xuất phát từ nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội, luật hình sự nước ta không cho phép áp dụng tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong thời gian chấp hành án tù chung thân, nếu người bị kết án có kết quả cải tạo tốt thì người phạm tội có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt.

  • Hình phạt tử hình

Theo Điều 40 BLHS 2015 quy định về hình phạt tử hình như sau:

1. Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định.

Hình phạt tử hình là hình phạt chính, tước bỏ quyền sống của người bị kết án. Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất. Hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hại đặc biệt cho xã hội. Hình phạt tử hình giúp loại bỏ hoàn toàn khả năng thực hiện hành vi phạm tội tiếp theo của người phạm tội.

Hình phạt tử hình chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác như tội khủng bố, tội phạm chiến tranh… Tuy nhiên không phải đối tượng nào trong quy định trên đều phải chịu hình phạt tử hình. BLHS đã loại trừ một số đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình. 

Theo đó, không áp dụng hình phạt tử hình đối với người dưới 18 tuổi khi phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử.

Không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu thuộc một trong các trường hợp: phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; người đủ 75 tui trở lên; người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hi lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Sở dĩ có quy định về những đối tượng thuộc trường hợp không áp dụng hình phạt tử hình nêu trên nhờ xuất phát từ chính sách nhân đạo của nhà nước ta. Đối với người dưới 18 tuổi, tuổi đời của họ còn quá trẻ, chưa hoàn thiện về mặt thể chất, tâm sinh lý, chưa có cơ hội cống hiến cho gia đình và xã hội. Nên áp dụng các hình phạt mang tính chất giáo dục, cải tạo họ sẽ hợp tình hợp lý.

Đối với người phạm tội là phụ nữ mang thai, thể chất và tâm sinh lý của họ không giống như người phụ nữ bình thường. Đảm bảo đúng nguyên tắc đúng tội, đứa con của người phạm tội có quyền sống, có quyền được sinh ra lành mạnh, đảm bảo đủ điều kiện cơ bản cho sự hình thành và phát triển. Do vậy không thể áp dụng hình phạt tử hình đối với phạm nhân đang mang thai.

Đối với phạm nhân là phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi, việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với họ là hợp lý bởi trẻ em dưới 36 tháng tuổi rất cần sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng từ người mẹ. Trong độ tuổi dưới 36 tháng vai trò của người mẹ là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, thể chất, tâm sinh lý, nhân cách đứa trẻ. Nếu áp dụng hình phạt tử hình người mẹ thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đứa trẻ.

Người phạm tội đủ 75 tuổi trở lên, xét thấy họ là những người cao tuổi, thay vì áp dụng hình phạt tử hình thì có thể kết án tù chung thân hoặc tù có thời hạn tùy từng trường hợp. Khi đó, phần đời còn lại của họ chịu án phạt tù hoặc khi ra tù đã quá già yếu, tính nguy hiểm cho xã hội đã giảm đi đáng kể nên không áp dụng hình phạt tử hình là điều cần thiết.

Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hi lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn thì sẽ không bị thi hành hình phạt tử hình.

Đây là một chính sách tỏ ra rất hữu ích đối với xã hội. Khi người phạm tội bị phạm vào các tội phạm kể trên đa số họ đều đã chiếm đạt tài sản lên tới hàng tỷ, chục tỷ đồng thậm chí là hàng trăm nghìn tỷ đồng.

Thay vì loại trừ hẳn họ khỏi xã hội thì việc đưa ra lựa chọn cho họ nộp lại ít nhất 3/4 tài sản do phạm tội mà có và hợp tác tích cực với cơ quan điều tra hoặc lập công lớn. Chính sách này giúp nhà nước thu về số tiền lớn, nhiều tài sản có giá trị của người phạm tội, triệt phá được đường dây phạm tội lớn, khuyến khích người phạm tội trả lại tài sản hoặc có công lớn để không phải chịu hình phạt tử hình.

Chính sách này vừa thể hiện tính nhân đạo của nhà nước, vừa tính đến lợi ích kinh tế giúp ích rất nhiều cho xã hội.

b) Hình phạt đối với người phạm tội là hình phạt bổ sung

  • Hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định

Điều 41 BLHS 2015 quy định về hình phạt bổ sung này như sau:

Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được áp dụng khi xét thấy nếu để người bị kết án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc đó thì có thể gây nguy hại cho xã hội.

Như vậy có thể hiểu hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là một trong những hình phạt bổ sung, buộc người phạm tội không được giữ chức vụ, không được hành nghề hoặc thực hiện công việc nhất định.

Hình phạt này được quy định đối với các tội phạm có sự lợi dụng, lạm dụng chức vụ, nghề nghiệp hoặc công việc hay các tội do thiếu trách nhiệm, trong khi thực hiện công vụ hoặc vi phạm quy tắc nghề nghiệp, hành chính.

Thời hạn cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định có thể là từ 01 năm đến 05 năm được tính kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung này có ý nghĩa là  tăng cường hiệu quả của hình phạt chính, loại bỏ điều kiện để người đã bị kết án phạm tội lần tiếp theo.

  • Hình phạt cấm cư trú

Điều 42 BLHS 2015 quy định hình phạt cấm cư trú như sau:

Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú hoặc thường trú ở một số địa phương nhất định.

Thời hạn cấm cư trú là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

Có thể hiểu cấm cư trú là là hình phạt bổ sung, buộc người bị kết án phạt tù không được tạm trú hoặc thường trú ở một số địa phương nhất định. Hình phạt này được áp dụng cho người bị phạt tù khi xét thấy có khả năng họ sẽ phạm tội ở một số địa phương nào đó sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Những người này thường lợi dụng những điệu kiện thuận lợi ở địa phương đó để dễ dàng thực hiện tội phạm. 

Địa phương có thể bị cấm cư trú có thể có các đặc điểm như là thành phố lớn, khu công nghiệp, khu vực biên giới, hải đảo, đầu mối giao thông đường bộ, đường biển quan trọng… Vì những đặc thù này mà những địa phương đó đòi hỏi tính đảm bảo về an ninh trật tự, an toàn xã hội cao.

Thời hạn cấm cứ trú có thể từ 01 năm đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  • Hình phạt quản chế

Theo Điều 43 BLHS 2015 có thể hiểu: Hình phạt quản chế là hình phạt bổ sung, buộc người bị kết án phạt tù phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương.

Người bị áp dụng hình phạt quản chế có nghĩa vụ: quay trở về địa phương mà bản án chỉ định là nơi quan chế ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù, không được tự ý rời khỏi nơi quản chế trong thời gian quản chế.

Trong thời gian chịu hình phạt quản chế, người bị kết án với hình phạt này không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân (quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước và quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân) và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

Hình phạt đối với người phạm tội trong trường hợp này được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật Hình sự 2015 này quy định. 

Thời hạn áp dụng hình phạt quản chế là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  • Hình phạt tước một số quyền công dân

Theo như Điều 44 BLHS 2015 quy định: Hình phạt tước một số quyền công dân là hình phạt bổ sung, buộc người bị kết án phạt tù không được thực hiện một số quyền công dân. Các quyền có thể bị tước được quy đinh trong hình phạt này đó là: quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước và quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Hình phạt đối với người phạm tội này áp dụng cho công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do BLHS quy định.

Thời hạn của hình phạt tước một số quyền công dân kể trên là từ 01 năm đến 05 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

  • Hình phạt tịch thu tài sản

Điều 45 BLHS 2015 đã quy định cơ bản về hình phạt tịch thu tài sản. Theo đó có thể hiểu tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung, tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án để nộp vào ngân sách nhà nước.

Hình phạt tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tham nhũng hoặc tội phạm khác do BLHS quy định.

Trong trường hợp áp dụng hình phạt tịch thu toàn bộ tài sản, vẫn phải để lại phần tài sản nhất định cho người bị kết án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

5. Một số lưu ý quan trọng khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội

  • Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính

Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác.

Mức tiền phạt khi áp dụng hình phạt phạt tiền được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

  • Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Khi bị áp dụng hình phạt trục xuất thì buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trục xuất được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung trong từng trường hợp cụ thể.

Về nguyên tắc, hình phạt chính là hình phạt được tuyên độc lập, mỗi tội phạm chỉ có thể bị tuyên một hình phạt chính.

Hình phạt bổ sung là hình phạt đối với người phạm tội không thể tuyên độc lập, mà chỉ có thể tuyên kèm theo một hình phạt chính đối với mỗi loại tội phạm. Khác so với hình phạt chính, hình phạt bổ sung được áp dụng không phải đối với tất cả các loại tội phạm mà chỉ riêng có một số loại tội nhất định và cũng không phải hình phạt bổ sung được áp dụng kèm theo bất kỳ loại hình phạt chính nào.

Trong các loại hình phạt đối với người phạm tội, phạt tiền và trục xuất là hai loại hình phạt được quy định vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung.

Lưu ý: Hình phạt đối với người phạm tội , mỗi người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

 

Trên đây là phần tư vấn của Công ty Luật Thái An về các hình phạt đối với người phạm tội hình sự. Xin lưu ý là sau thời điểm chúng tôi viết bài này, luật pháp đã có thể thay đổi các quy định liên quan. Hãy gọi tới Tổng đài tư vấn Luật Hình Sự. Bạn sẽ được tư vấn trực tiếp và chính xác nhất về các vấn đề liên quan tới tội phạm hình sự.

6. Dịch vụ luật sư bào chữa hình sự của Luật Thái An

Hiến pháp nước ta và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành đều quy định về quyền được thuê luật sư bào chữa trong các vụ án hình sự: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc người khác bào chữa”. Sử dụng dịch vụ luật sư bào chữa, người phạm tội sẽ được bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.

===>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa

 

HÃY LIÊN HỆ NGAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG 

Bề dày 14+ năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật và giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, đầu tư, dân sự, hình sự, đất đai, lao động, hôn nhân và gia đình... Công ty Luật Thái An cam kết cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Khách hàng.

  • Để được Giải đáp nhanh - Hãy gọi Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 633 725
  • Để được Tư vấn qua email – Hãy điền Form gửi yêu cầu (500.000 – 800.000đ /email) -
  • Để được Tư vấn bằng văn bản đóng dấu công ty – Hãy điền Form gửi yêu cầu (từ 1.000.000đ /văn bản)
  • Để được Cung cấp dịch vụ pháp lý trọn gói – Hãy điền Form gửi yêu cầu (Phí dịch vụ tuỳ thuộc tính chất vụ việc)
Lưu ý: Để nhận ý kiến tư vấn qua email hoặc văn bản đóng dấu công ty: Khách hàng thanh toán chuyển khoản lần 1 (50%) khi yêu cầu dịch vụ, lần 2 (50%) trước khi luật sư gửi văn bản tư vấn. Hãy liên hệ theo số đt 082 966 6868 (zalo) để được hướng dẫn.






    Contact Me on Zalo
    1900633725
    Yêu cầu dịch vụ

    Gọi điện cho luật sư
    Gọi cho luật sư

    Tư vấn văn bản
    Tư vấn văn bản

    Dịch vụ trọn gói
    Dịch vụ trọn gói