Trong bài viết dưới đây Luật Thái An sẽ giải đáp câu hỏi của khách hàng về vấn đề chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình.

Câu hỏi của khách hàng:

Chào luật sư. Tôi tên là Bình, 51 tuổi, hiện đang cư trú tại Ninh Bình. Tôi với chồng tôi kết hôn năm 1990. Khi tôi lấy chồng tôi, anh ấy chỉ còn mẹ nên tôi chuyển hộ khẩu về nhà chồng, trong hộ khẩu có tôi, anh ấy và mẹ anh ấy. Năm 1994, nhà nước cấp sổ đỏ cho nhà tôi, sổ đỏ ghi là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Đến năm 2005, tôi với chồng tôi xây dựng được một căn nhà 67m2, hoàn toàn là tiền của vợ chồng tôi tiết kiệm, không có sự đóng góp của mẹ chồng. Đến nay, tôi muốn ly hôn do nhiều năm qua chồng tôi gia trưởng, độc đoán, tôi chịu đựng đến ngày hôm nay cũng để cho con cái khôn lớn xây dựng gia đình. Tôi muốn chia tài sản nhà và đất, nhưng chồng tôi cho rằng đất là của mẹ anh ấy, nhà anh ấy xây, tôi không có phần. Vậy luật sư cho tôi hỏi, tài sản nhà đất trên tôi có phần không, nếu có thì làm thế nào tôi mới có thể đòi được? Hiện sổ hộ khẩu chỉ có 3 người là tôi, chồng và mẹ chồng. Tôi xin cảm ơn.

Luật Thái An trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi. Về vấn đề chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình, chúng tôi xin trả lời như dưới đây:

1. Cơ sở pháp lý:

Cơ sở pháp lý để trả lời câu hỏi về chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình là các văn bản pháp luật sau đây:

  • Luật Hôn nhân và gia đình 52/2014/QH13
  • Luật đất đai 2013
  • Bộ luật tố tụng dân sự 2015
  • Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình

2. Vấn đề quyền sử dụng đất của hộ gia đình:

Theo khoản 29 Điều 3 của Luật Đất đai 2013 quy định:

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”

Theo thông tin bạn cung cấp thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà nhà nước cấp cho gia đình bạn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Hộ gia đình sử dụng đất theo quy định của pháp luật là những người có quan hệ về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung và được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, tại thời điểm nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994, hộ gia đình bạn có 3 người là bạn, chồng bạn và mẹ chồng bạn, do đó quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu chung của cả ba người nêu trên. Việc chồng bạn nói bạn không có phần là hoàn toàn không có cơ sở pháp luật.

3. Vấn đề tài sản chung của vợ chồng:

Vấn đề chia tài sản khi ly hôn chỉ được đề cập đến khi tài sản đó được coi là tài sản chung của vợ chồng. Theo điều 33 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo như quy định của điều này thì tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Ngôi nhà mà vợ chồng bạn đang chung sống là ngôi nhà hình thành trong thời kỳ hôn nhân (là thời gian từ khi kết hôn cho đến khi ly hôn), nên được coi là tài sản chung của hai vợ chồng. Ngoài ngôi nhà ra, bất kỳ tài sản nào hình thành trong thời kỳ hôn nhân mà không phải tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc tài sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản riêng như xe máy, ô tô, tủ lạnh, ti vi, … đều được coi là tài sản chung và bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu chia tài sản này khi ly hôn.

Như vậy, việc chồng bạn nói bạn không có phần trong khối tài sản riêng này là hoàn toàn không có cơ sở pháp luật. Tài sản chỉ được coi là tài sản riêng của một trong hai bên vợ chồng khi có căn cứ chứng minh đó là tài sản riêng, nếu không chứng minh được thì đó được coi là tài sản chung của vợ chồng, được chia nếu các bên có yêu cầu khi ly hôn.

4. Chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình:

Tuy nhiên, trường hợp của bạn lại khá đặc biệt, do hai vợ chồng còn sống chung với mẹ chồng và việc sinh hoạt, chi tiêu, thu nhập của gia đình được coi là có sự đóng góp của người mẹ chồng. Về vấn đề Chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình, điều 61 Luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau:

“1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Theo như thông tin bạn cung cấp, việc xây dựng ngôi nhà là tiền tiết kiệm của hai vợ chồng, không liên quan gì đến mẹ chồng. Tuy nhiên, việc chứng minh ngôi nhà là tài sản của hai vợ chồng là rất khó do thời gian đã qua lâu, trừ trường hợp mẹ chồng bạn công nhận. Như vậy, dù xác định căn nhà có hay không có phần đóng góp của mẹ chồng thì vẫn khẳng định được rằng, căn nhà có công sức đóng góp của bạn trong thời kỳ hôn nhân và khi ly hôn, bạn hoàn toàn có thể nhận phần của mình trong việc tạo lập, duy trì và phát triển căn nhà của hai vợ chồng.

Bạn có thể đưa ra các căn cứ pháp lý để thỏa thuận với chồng về việc chia tài sản, nếu nhà và đất không thể chia bằng hiện vật thì hai vợ chồng có thể thỏa thuận trả bằng tiền mặt.

5. Làm thế nào để chia tài sản nếu vợ hoặc chồng không đồng ý?

Theo điều 59 Luật hôn nhân và gia đình, nếu vợ chồng không thể thỏa thuận giải quyết được việc chia tài sản khi ly hôn thì một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì thẩm quyền giải quyết chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp bạn nêu là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi căn nhà của bạn tọa lạc.

6. Tóm tắt tư vấn về vấn đề chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình

Với những phân tích ở trên, có thể tóm tắt tư vấn là: Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình, khi ly hôn tài sản được chia theo công sức đóng góp của từng người trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc chia tài sản thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

7. Tư liệu để tìm hiểu kỹ hơn xung quanh vấn đề chia tài sản khi ly hôn

Để hiểu rõ hơn vấn đề chia tài sản khi ly hôn , bạn cũng có thể xem video dưới đây của chúng tôi, sẽ rất bổ ích cho bạn:

 

Trên đây là phần tư vấn về vấn đề chia tài sản khi ly hôn nếu vợ chồng sống chung với gia đình. Hãy gọi Tổng đài tư vấn luật hôn nhân và gia đình – luật sư sẽ giải thích cặn kẽ những gì chưa thể hiện được hết trong bài viết này.

8. Dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết ly hôn của Luật Thái An

Sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết ly hôn là một lựa chọn khôn ngoan bởi luật sư sẽ giúp bạn bảo vệ lợi ích hợp pháp một cách tối đa khi chia tài sản vợ chồng, khi giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng cho con. Hơn nữa, việc ly hôn sẽ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn nhiều so với bạn tự mầy mò thực hiện các thủ tục ly hôn, đơn giản vì bạn chưa có kinh nghiệm và không hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ.

Nếu bạn cần dịch vụ luật sư tư vấn và giải quyết ly hôn cho mình, bạn vui lòng tham khảo dịch vụ của chúng tôi khi xem bài viết Dịch vụ ly hôn. Ngoài ra, Bảng giá dịch vụ có tại bài viết Bảng giá dịch vụ ly hôn và giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình.

HÃY LIÊN HỆ NGAY ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ!

Contact Me on Zalo
1900633725
Yêu cầu dịch vụ